sự mẩn cảm của con người do phụ gia

Joined: August 7th, 2011, 4:19 pm

August 7th, 2011, 5:14 pm #1

1.3/ Sự mẫm cảm của con người do phụ gia
[+] Spoiler
Chất phụ gia thực phẩm là những chất giúp bảo quản thực phẩm, tăng cường độ ngọt, tạo màu hay tăng thêm hương vị. Tuy nhiên nhiều năm nay, FDA đã ghi nhận các tác dụng phụ của một số chất phụ gia thực phẩm phổ biến như: Aspartam, Monosodium glutamate, chất bảo quản gốc Sulfur, Tartrazine.

Dị ứng với chất phụ gia thực phẩm

Từ rất lâu, người ta đã sử dụng một số hóa chất trong việc chế biến thực phẩm để làm các loại thực phẩm hay món ăn được ngon hơn, ngọt hơn, tươi hơn, đẹp hơn... những chất này được gọi là chất Phụ gia thực phẩm (PGTP). Tuy nhiên, những gì trái với tự nhiên thường ẩn chứa những nguy cơ nào đó. Nhiều năm nay, FDA đã ghi nhận được một số tác dụng phụ của một số chất PGTP như: Aspartame (chất làm ngọt, còn được gọi là đường hóa học). Monosodium Glutamate (chất làm tăng hương vị, còn được gọi là bột ngọt), chất bảo quản có gốc lưu huỳnh, Tartrazine (chất tạo màu vàng số 5).

Aspartame (ASP)

Theo FDA cho đến bây giờ ASP vẫn an toàn cho đa số người tiêu dùng. Tuy nhiên những bệnh nhân tiểu ra chất Phenylketone (do di truyền) và phụ nữ mang thai có nồng độ Phenylalanine trong máu cao sẽ gặp phải vấn đề với ASP vì không thể chuyển hóa tốt Phenylalanine (một trong các thành phần của ASP). Nếu nồng độ của Phenylalanine trong máu cao có thể gây tổn thương não. ASP thường được dùng để thay thế cho việc sử dụng các loại đường làm từ mía ở các bệnh nhân tiểu đường, thực phẩm hay bánh kẹo được sản xuất công nghiệp (để tiết kiệm) và còn bị lạm dụng trong các hàng quán nhỏ (chè, kem).

Monosodium glutamate (MSG)

Đã được sử dụng từ nhiều năm nay ở các gia đình, nhà hàng trong việc chế biến, nêm nếm thức ăn để tăng cường hương vị thực phẩm. Những người nhạy cảm với MSG có thể bị các phản ứng nhẹ, ngay sau khi ăn thức ăn có quá nhiều MSG (do lạm dụng). Các phản ứng này thường tạm thời và được gọi là Hội chứng nhà hàng Trung Hoa (vì lúc ban đầu MSG được sử dụng rất phổ biến trong các quán ăn Trung Hoa) có thể gồm: Nhức đầu, mỏi vai-cổ, hoa mắt, buồn nôn, nôn ói. Tuy nhiên, dựa trên các nghiên cứu và báo cáo về các phản ứng phụ liên quan đến MSG thì FDA cho rằng MSG vẫn là PGTP an toàn cho đa số mọi người. Dù vậy FDA vẫn qui định MSG phải được ghi rõ ràng và công khai (không được lập lờ như một công ty bột nêm ở Việt Nam đã làm) trên nhãn của bất kỳ sản phẩm thực phẩm nào có thêm MSG vào.

Chất bảo quản có gốc sulfites

Trong báo cáo về phản ứng phụ của PGTP mà FDA nhận được thì các chất bảo quản có gốc Sulfites thường gây dị ứng cho người tiêu dùng nhất (ngứa, nổi mề đay...). Từ năm 1986, FDA chính thức cấm sử dụng Sulfites trên các loại rau quả, trái cây dùng để ăn sống, cũng như trên các loại thịt (tươi sống) gia súc (heo, bò), gia cầm (gà, vịt) và các loại thực phẩm chế biến có sử dụng sulfites phải được ghi rõ trên nhãn hàng. Tuy nhiên hiện nay, không còn được dùng trên đa số các sản phẩm thực phẩm tươi sống nhưng nó vẫn được dùng trong các loại thực phẩm đã chế biến hay nấu nướng với tác dụng chống oxy hóa để giảm hay ngăn chặn sự phai màu của các loại rau quả, trái cây có màu lợt (trái cây sấy khô, mứt, rau quả trái cây đóng hộp, khoai tây lát đóng gói, tôm đông lạnh) và ức chế sự phát triển của vi khuẩn trong các thực phẩm lên men (rượu, bia, nước trái cây, đường mật). Phần đông mọi người không có vấn đề với Sulfites nhưng nó có thể gây nguy hiểm với một số người dễ bị dị ứng như bệnh nhân hen suyễn (nhất là trẻ bị hen). Ngoài ra, những người bị dị ứng thường có hàm lượng men Sulfites oxidase thấp nên khả năng chuyển hóa Sulfites kém và hậu quả là khí sulphur dioxide dư thừa được giải phóng ở dạ dày sẽ bị ợ ngược lên, gây kích thích cổ họng và hắt hơi.

Chất tạo màu vàng số 5 (Tartrazine)

Chất phụ gia tạo màu cũng phải tuân theo những qui định an toàn như các chất PGTP. Nhạy cảm với Tartrazine thường hiếm gặp (0,1% dân số), tuy nhiên nó có thể gây ngứa hay nổi mề đay ngay tức thì ở một số ít người. Vì vậy từ năm 1980 (đối với thuốc uống) và 1981 (đối với thực phẩm), FDA qui định mọi sản phẩm có chứa chất này phải liệt kê rõ trên nhãn hàng. Ngoài ra từ ngày 8/5/1993 theo Luật Giáo dục và Dán nhãn dinh dưỡng thì tất cả nhãn hàng hóa thực phẩm phải liệt kê đầy đủ các chất tạo màu đã được đăng ký.
Các trường hợp mẫn cảm với thực phẩm mà nguyên nhân chính là do phụ gia
- Ngày nay, các loại thức ăn chế biến sẵn, đông lạnh ngày càng phổ biến, nhất là ở các nước phát triển, các thành phố lớn. Trên nhãn của chúng đều ghi rõ các thành phần cơ bản nhất của thực phẩm, nhưng còn rất nhiều chất khác như chất phòng thối, đông tụ... (được gọi chung là “những phối liệu ẩn tàng”) không được ghi trên nhãn. Chúng có thể là nguyên nhân gây dị ứng. Bệnh nhân có thể bị sưng phồng môi, lưỡi, đau một bên đầu, ngứa ngáy... Cũng may là những trường hợp nặng rất hiếm xảy ra.
- Chất gây dị ứng có trong thức ăn khi vào cơ thể sẽ gây ra phản ứng quá mẫn cảm. Đầu tiên, cơ thể sản sinh ra một loại kháng thể đặc dị, được gọi là protein miễn dịch IgE. Nếu lại tiếp tục ăn thức ăn ấy, chất gây mẫn cảm sẽ thúc đẩy IgE kết hợp với tế bào phì đại của hệ thống miễn dịch để tạo ra histamine. Histamine sinh ra trong các tổ chức, cơ quan khác nhau sẽ gây nên những bệnh lý khác nhau. Ví dụ, histamine phóng ra ở mũi, vòm miệng và họng sẽ làm cho việc nuốt, thở khó khăn; phóng ra ở ruột thì gây đau rát như bị bỏng và đi tả; nếu phóng ra trên da sẽ gây mẩn ngứa, nổi mụn...
- Cũng có một số thức ăn chứa chất xúc tiến sinh histamine như cá, nhiều loại pho mát, thực phẩm lên men, rượu vang đỏ, chocolate... Đặc biệt, cá (nhất là cá đông lạnh) thường sản sinh nhiều histamine ở mặt ngoài. Thực phẩm dễ gây dị ứng nhất là các chế phẩm từ sữa, rồi tới trứng, trai, sò, ốc, đậu nành, đậu vàng, lạc, hạnh đào...
Nguyên nhân chủ yếu gây tình trạng quá mẫn cảm thực phẩm là do sử dụng quá nhiều chất phụ gia khi chế biến. Trong những thứ ta ăn hằng ngày, có tới 90% là thực phẩm gia công hoặc có cho chất phụ gia. Một nguyên nhân nữa là tính đơn nhất về chủng loại thực phẩm mà chúng ta sử dụng. Để thỏa mãn 80% mức tiêu hao nhiệt lượng mỗi ngày, chỉ cần 11 loại thức ăn là đủ, nên mọi người thường chỉ quanh đi, quẩn lại sử dụng các loại đó mà thôi. Kết quả là sự tích tụ chất gây dị ứng từ các thực phẩm này ngày càng nhiều. Vì vậy, các chuyên gia khuyên nên tìm mọi cách để thay đổi chủng loại thức ăn nhằm làm chậm thời gian tích lũy những hóa chất đủ đạt tới số lượng gây dị ứng.
II/ Ảnh hưởng của phụ gia thực phẩm đối với cơ thể sống con người
2.1/ Vai trò và lợi ích của phụ gia mang lại cho con người
[+] Spoiler
Phụ gia thực phẩm đóng vai trò rất quan trọng cũng như lợi ích to lớn của chúng mang lại trong quá trình sản xuất chế biến thực phẩm.
- Thực phẩm an toàn hơn, dinh dưỡng hơn: Chất bảo quản và phụ gia có chức năng dinh dưỡng được sử dụng trong thực phẩm nhằm gia tăng sự an toàn và giá trị dinh dưỡng của thực phẩm. Việc sử dụng các chất chống vi sinh vật giúp ngăn chặn nguy cơ bị ngộ độc thực phẩm do các vi sinh vật gây nên. Chất chống oxy hóa được sử dụng để ngăn chặn sự phát triển của mùi thối, sự hình thành các gốc tự do có nguồn gốc từ sự oxy hóa các thành phần có trong thực phẩm. Việc sử dụng các vitamin vào thực phẩm làm tăng giá trị dinh dưỡng cho sản phẩm.
- Cơ hội lựa chọn thực phẩm nhiều hơn:
Việc sử dụng các chất phụ gia thực phẩm cho phép sản xuất một lượng lớn các thực phẩm trái mùa và các sản phẩm thực phẩm mới đa dạng. Cùng với sự xuất hiện của phụ gia thực phẩm, thức ăn nhanh, thức ăn ít năng lượng, các thực phẩm thay thế khác cũng ra đời và phát triển để đáp ứng nhu cầu ăn uống ngày càng đa dạng của con người. Cấu trúc, hương vị, màu sắc và giá trị dinh dưỡng của những thực phẩm này được giữ trong một thời gian khá dài.
Công nghiệp thức ăn nhanh tiếp tục được phát triển ngày càng đa dạng và phong phú hơn nhờ các phụ gia tạo màu, hương vị được cho thêm vào thực phẩm. Những sản phẩm này thường được chế biến ở nhiệt độ cao và thời gian bảo quản phải dài nên ta phải sử dụng phụ gia.
Do nhu cầu ăn kiêng của con người, công nghiệp sản xuất các thực phẩm ít năng lượng ra đời. Nhiều chất tạo nhũ và keo tụ, các ester của acid béo và đường mía giúp làm giảm lượng lớn các lipid có trong thực phẩm.
Các chất tạo màu, mùi, vị giúp gia tăng sự lôi cuốn, hấp dẫn của thực phẩm.
- Giá thành thực phẩm rẻ hơn: Trong rất nhiều trường hợp, việc sử dụng phụ gia làm giảm giá thành sản phẩm.
- Làm tăng giá trị dinh dưỡng: Việc bổ sung chất dinh dưỡng có thể là để trả lại phần dinh dưỡng đã mất đi do việc chế biến thực phẩm, hoặc cho thêm những chất vốn không có trong loại thực phẩm đó. Như bánh mì, bột, gạo được cho thêm vitamin B là thành phần đã bị mất đi khi xay xát hay việc cho thêm i-ốt vào muối, thêm vitamin A, vitamin D vào sữa...
- Giữ cho thực phẩm an toàn, tươi lâu hơn: Thực phẩm thường bị một số vi khuẩn, nấm độc, mốc, men làm hư hỏng. Chất phụ gia có thể giúp bảo quản, làm chậm hư thối, giữ được phẩm chất và vẻ hấp dẫn của thực phẩm. Như sulfit được cho vào các loại trái cây khô, nitrit và nitrat được cho thêm vào các loại thịt chế biến như xúc xích, thịt muối, thịt hộp...Một số thực phẩm sau luôn được cho thêm các chất phụ gia để có thể bảo quản được trong thời gian dài: đồ uống, thực phẩm nướng, trái cây đóng hộp, bánh mì... Các loại thực phẩm được thêm chất chống ôxy hóa (anti-oxidant) để tránh có mùi, mất màu như dầu, mỡ, dầu giấm...
- Làm thay đổi bề ngoài của thực phẩm: Có nhiều chất phụ gia được cho vào thực phẩm với mục đích tăng vẻ bề ngoài hấp dẫn, như là:
Chất làm cho món ăn có độ ẩm, không khô cứng, hơi phồng lên và gia vị không dính với nhau như chất nhũ hóa lecithin ở sữa, lòng đỏ trứng, đậu nành, glycerin giữ độ ẩm và các gia vị trong dầu giấm, bơ lạc...
Chất chống khô cứng, đóng cục, dính lại với nhau như canxi silicate, silicon dioxyd. Các chất này có tác dụng ngăn bột, đường, muối hút nước rồi dính lại với nhau.
Chất làm bột nở, như muối bicarbonate, bột nở, natri phosphat hoặc một vài loại men, được dùng khi làm bánh nướng, bánh mì... giúp cho bánh mềm xốp, nhẹ hơn.
Chất phụ gia giúp các nguyên liệu dễ dàng hòa vào nhau.
Chất làm thay đổi độ axit, kiềm của thực phẩm, nhằm mục đích thay đổi cấu trúc, hương vị cũng như tăng sự an toàn của món ăn như kali, axit tartaric, axit lactic, axit citric...
- Làm tăng mùi vị và sức hấp dẫn của thực phẩm: Một số chất màu có công dụng làm cho thực phẩm có vẻ ngoài hấp dẫn hơn hoặc phục hồi màu sắc nguyên thủy của thực phẩm; làm cho các món ăn khác nhau có cùng màu; duy trì hương vị vitamin dễ bị phân hủy vì ánh sáng; tạo cho thực phẩm có dáng vẻ đặc trưng, dễ phân biệt. Chất màu có thể là hóa chất tổng hợp hoặc chất màu thiên nhiên lấy từ thực vật. Chất màu thường được sử dụng là beta caroten (tiền tố vitamin A), nước củ cải đường, cà rốt, nghệ...
- Tác dụng khác: Cung cấp thêm một vài thành phần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho một số đối tượng đặc biệt, như đường hóa học tạo vị ngọt cho thực phẩm nhưng chúng không sinh hoặc ít sinh năng lượng nên được sử dụng để thay thế đường cho bệnh nhân đái tháo đường và bệnh nhân béo phì.
2.2/ Các tác hại của phụ gia trong thực phẩm
[+] Spoiler
Bên cạnh những tác dụng có lợi thì người ta cũng quan tâm đến tác hại của phụ gia thực phẩm. Đây là một vấn đề phức tạp. Nhiều nhà khoa học cũng như nhiều phe nhóm nghiên cứu vẫn đang tranh luận gây gay go về sự an toàn của các chất phụ gia. Các tác hại của phụ gia thực phẩm gồm:
- Ngộ độc cấp tính: có thể gây mẫn cảm như ngứa, sưng phù, nóng bừng mặt, cứng gáy, chóng mặt, tê lưỡi, nhức đầu, buồn nôn...
- Ngộ độc mãn tính dù dùng liều nhỏ, nhưng thường xuyên một số phụ gia tích lũy trong cơ thể có thể gây ra mất cảm giác ăn ngon, giảm cân, tiêu chảy, rụng tóc, suy thận mạn tính, da xanh xao, động kinh, thiếu máu, suy tim, suy gan, suy thận, độc thần kinh, tiểu đường, nguy cơ hình thành khối u, ung thư, đột biến gen, quái thai. Khi phát hiện bất cứ một chất nào gây ra ung thư cho vật thí nghiệm thì sẽ bị cấm sử dụng cho người ngay tức skhắc ở bất cứ liều lượng nào.
Thí dụ: Khi sử dụng thực phẩm có hàn the, hàn the sẽ được đào thải qua nước tiểu 81%, qua phân 1%, qua mồ hôi 3% còn 15% được tích luỹ trong các mô mỡ, mô thần kinh, dần dần tác hại đến nguyên sinh chất và đồng hóa các aminoit, gây ra một hội chứng ngộ độc mạn tính: ăn không ngon, giảm cân, tiêu chảy, rụng tóc, suy thận mạn tính, da xanh xao, động kinh, trí tuệ giảm sút.
- Nguy cơ gây hình thành khối u, ung thư, đột biến gen, quái thai, nhất là các chất phụ gia tổng hợp.
- Ngoài ra, có thể có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm như phá hủy các chất dinh dưỡng và các vitamine. Tác hại còn do một số chất cho thêm vào trong thực phẩm để bảo quản hoặc tăng sức hấp dẫn nhưng chưa có trong danh mục cho phép của Bộ Y tế, thậm chí là loại đã bị cấm nhưng lén lút được sử dụng; hầu hết chúng đều có hại đến sức khỏe nhất là gây ung thư và quái thai.
Một vài điển hình về tác hại do dùng chất phụ gia không an toàn:
- Dùng hàn the (borat natri) trong các loại thực phẩm như mì tươi, chả cá, chả lụa, thịt nguội, nem chua, bánh tráng, bánh xèo, bánh phở, các món ăn chay... Hàn the được dùng để giữ cho thực phẩm lâu hỏng, thực phẩm được dẻo, dai, cứng. Hàn the đã bị cấm sử dụng trong thực phẩm với bất cứ hàm lượng nào vì nó gây ngộ độc cho người sử dụng. Nó gây kích thích da, mắt, đường hô hấp, có thể làm thoái hóa cơ quan sinh dục, làm suy yếu khả năng sinh sản và gây thương tổn cho bào thai. Triệu chứng ngộ độc mãn tính: ăn không ngon, rối loạn tiêu hóa, chậm chạp lú lẫn, viêm da, thiếu máu, co giật và rụng tóc. Trẻ em nếu uống nhầm acid boric 1-2g/kg sẽ chết trong vòng 1 tuần.
- Dùng formol (CH2O) trong bánh phở, mì sợi, tiết canh để làm dai, cứng. Formol hay formalin là tên thương phẩm của formaldehyde, được dùng trong y học để bảo quản bệnh phẩm, ướp xác, tránh xác thối rửa vì Formol diệt được tất cả các loại vi khuẩn, nấm mốc, nấm men. Formol ăn vào có thể gây khó tiêu, buồn nôn, nôn mữa mửa, viêm loét dạ dày tá tràng, có khả năng gây ung thư.
- Dùng muối diêm tiêu (nitrite và nitrate sodium hoặc potassium) trong việc ướp thịt sống, cá, bảo quản các loại đồ hộp, thịt nguội, Jăm-bông, xúc xích (jambon, saucisse), lạp xưởng... Ngoài việc bảo quản, diêm tiêu còn tạo cho thịt, cá có màu hồng tươi rất là hấp dẫn. Lúc chiên nướng, nitrite và nitrate chuyển hoá thành chất nitrosamine là chất gây ung thư. Riêng nitrite có tác dụng oxy hóa hemoglobin có thể gây ra methemoglobin sẽ ức chế hemoglobin của hồng cầu gắn oxy gây ra khó thở, tím tái, suy hô hấp.
- Phụ gia biến thịt heo thành thịt bò: từ Trung Quốc đã xuất hiện ở các chợ phía Bắc đang gây lo ngại cho người tiêu dùng. Theo điều tra, các cơ sở chế biến thịt bò giả này đã "dùng một hỗn hợp có chứa chất sodium borate, bột đậu, đường, muối, huyết heo, chất tạo mùi để tạo chất dính, ngâm và nhuộm thịt heo thành thịt bò". Chỉ sau nửa giờ ướp tẩm, những miếng thịt heo tươi trắng trẻo đổi sang màu nâu, cho thịt vào nồi hầm lửa nhỏ khoảng 1 giờ, bằng mắt thường người ăn sẽ rất khó có thể nhận ra rằng đó là thịt heo vì các thớ thịt của nó trông chẳng khác gì thịt bò.
- Dùng phẩm màu công nghiệp (như Rhodamin B) trong thực phẩm như thịt gia cầm quay, thịt nướng, bánh bò, bánh pía, mẫu hạt dưa, ớt bột, gia vị, tương ớt, bánh trung thu...Rhodamine B là hóa chất dùng để nhuộm quần áo, cấm tuyệt đối dùng trong thực phẩm và sản xuất thuốc. Nếu ăn hạt dưa nhuộm Rhodamine lâu dài sẽ gây suy gan, thận và ung thư. Ngay cả việc nhuộm quần áo bằng chất Rhodamine B người ta cũng rất e ngại, vì nếu mặc quần áo mà vẫn còn tồn dư của chất nhuộm này cũng có thể gây ung thư da cho người mặc.
- Dùng U-rê (Urée) để ướp cá: Urée là 1 loại phân đạm, còn gọi là phân lạnh vì pha trong nước sẽ trở nên rất lạnh như có nước đá. Tính chất lạnh của urée được con buôn khai thác để ướp thịt và cá, giữ cho tươi lâu. Tính lạnh cũng giúp vi khuẩn chậm phát triển. Urée để ướp được bán dưới hình thức 1 hỗn hợp gồm có urée trộn chung với hàn the, bột và muối.
- Sử dụng các loại chất tẩy rửa, hóa chất công nghiệp độc hại với hàm lượng cao như sodium sulphite (Na2SO3), sodium hyposulfite (Na2S2O3) để ngâm, tẩm, làm bóng, bảo quản các loại thực phẩm tươi sống, rau củ quả, măng tươi, nấm, hải sản đông lạnh... đang bày bán ở chợ cho tươi ngon bắt mắt, đánh lừa người tiêu dùng. Các hóa chất nói trên dễ gây ngộ độc, sử dụng lâu dài sẽ gây ra hậu quả đáng tiếc với các bệnh liên quan tiêu hóa, xương, thận.
- Dùng bột ngọt (MSG, monosodium glutamate) để làm tăng hương vị sản phẩm, làm nó ngọt và ngon hơn. Bột ngọt là thủ phạm của hội chứng Cao lâu hay nhà hàng Tàu (Syndrome du restaurant chinois), với triệu chứng cảm thấy khó chịu trong người, chóng mặt, nhức đầu, nóng ran ở mặt, sau ót và ở 2 cánh tay. Đôi khi có cảm giác đau ở ngực và muốn nôn mửa.
- 3_MCPD trong nước tương: Các chất sinh ra từ 3- MCPD đều gây hại. Khi vào cơ thể người, 3-MCPD sẽ biến đổi thành một số chất khác, và tất cả chúng đều gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người, bao gồm:
1,3-DCP: Có khả năng gây biến đổi gene và nhiễm sắc thể, làm tổn thương gan (thậm chí khiến gan bị hoại tử), viêm phế quản và dạ dày.
Mercapturic acid: Gây hại rất mạnh đối với thận.
Axit Beta – chlorolactic: Làm giảm khả năng di chuyển của tinh trùng, giảm pH môi trường mào tinh dẫn đến hiếm muộn.
Axit oxalic: Là chất độc đối với thận, vì dạng tinh thể canxi oxalat gây viêm cầu thận, tắc nghẽn vùng tủy tuyến thượng thận - tuyến nội tiết quan trọng đối với con người.
Glycidol: Làm biến đổi gene và nhiễm sắc thể, gây ung thư.
- Melamin trong sữa: Mêlamin có thể gây sỏi thận và dẫn đến suy thận ở trẻ. Chính chất này cũng bị cho là đã khiến cho một loạt chó và mèo bị chết ở Mỹ do được cho ăn thức ăn của Trung Quốc chứa những thành phần gây độc hại. Các nhà khoa học Mỹ đưa ra một giả thuyết là chất này được kết hợp với hóa chất khác, Axít xyanuric, gây suy thận ở động vật.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì tất cả các hóa chất đều độc hại đối với người và súc vật ở một liều nhất định, và với liều lượng cao hơn, ngay cả đối với những hóa chất được coi là không độc, chúng cũng gây ra những hậu quả đáng ngại. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp sử dụng phụ gia trong chế biến, sản xuất và bảo quản thực phẩm, tuy nhiên, một số đã quá lạm dụng các chất phụ gia, dùng quá hàm lượng cho phép gây nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng, thậm chí dùng những chất phụ gia ngoài danh mục cho phép vì mục đích lợi nhuận mà những phụ gia này có thể gây ra tác dụng phụ rất xấu tới sức khỏe người tiêu dùng. Với nồng độ chất bảo quản cho phép, khi vào cơ thể sẽ được thải ra ngoài theo hệ bài tiết, nhưng khi vượt quá nồng độ, thận không lọc hết chất này, lâu ngày sẽ tích tụ lại gây nhiễm độc cho con người. Do đó, Bộ Y tế đã khống chế hàm lượng, nồng độ của từng chất khi sử dụng trong thực phẩm.
III/ Các nhóm phụ gia thường gây đến sự mẫn cảm của con người
3.1/ Nhóm aspartame
[+] Spoiler
- Aspartame - một chất siêu ngọt có trong hơn 6.000 loại thức ăn và nước uống trên toàn thế giới - đang trở thành tâm điểm tranh luận của giới khoa học quốc tế, sau khi một nghiên cứu mới nhất của Italy phát hiện chất này có thể gây ung thư trên chuột.
- Aspartame ngọt gấp 200 lần so với đường tự nhiên và có mặt trên thị trường với các tên NutraSweet, Equal Spoonful, Benevia, NatraTaste, ước tính chiếm tới 62% thị trường chất siêu ngọt. Nó đang được hơn 350 triệu người trên thế giới sử dụng thường xuyên. Ở Anh, chất này phổ biến trong nước ngọt Cola và những nước uống ít calo, nước quả, kẹo, kẹo cao su, ngũ cốc, sữa chua, đồ ăn nhanh, thuốc và vitamin bổ sung (gồm cả những loại dành cho trẻ nhỏ).
- Theo phân tích mới nhất, aspartame gây ung thư thận và ung thư dây thần kinh ngoại biên, chủ yếu tập trung ở phần đầu, trên chuột. Tháng 7 vừa qua, Viện này cũng công bố phát hiện về mối liên hệ giữa aspartame với sự gia tăng nguy cơ mắc căn bệnh bạch cầu và u lymphô ở chuột cái "ở những liều rất gần với mức hấp thu hằng ngày cho phép ở người".
- Một nhóm chuyên gia của Chương trình nghiên cứu chất độc quốc gia thuộc Viện Y học Mỹ đã đứng ra kiểm chứng các phân tích của Viện Ramazzini, đồng thời hỗ trợ đánh giá dữ liệu dùng cho nghiên cứu. Kết quả cho thấy, aspartame là một "chất sinh ung thư đa tiềm năng", gây gia tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu và lymphô ở chuột cái, và gia tăng tỷ lệ ung thư và dấu hiệu tiên lượng của bệnh thận (gồm niệu quản và bể thận), cũng như các khối u ở dây thần kinh ngoại biên, đặc biệt là dây thần kinh sọ.
- Aspartame được chuyển hóa thành axit aspartic (40%), phenylalanine (50%) và methanol (10%). Chất methanol sau đó tiếp tục chuyển thành formaldehyde. Các thử nghiệm trước đây của Viện Ramazzini cho thấy cả methanol và formaldehyde đều dễ gây bệnh bạch cầu và u lymphô. Tuy nhiên, có một số dạng ung thư mà nhóm nghiên cứu quan sát thấy không được nhắc tới trước đây. Điều này chứng tỏ rất cần nghiên cứu gấp khả năng gây ung thư của cả axit aspartic hoặc phenylalanine.
Tính chất hóa học
Aspartame (APM) là non saccharide sweeter, aspartyl-phenylalanine-L-methyl ester, thuộc dipeptide của amino acids aspartic acid và phenylalanine. Một cách gọi khác: N-(L-αlpha-Aspartyl)-L-phenylalanine, 1-methyl ester; Công thức :C14H18N2O5; Phân tử gram nặng: 294.301 g/mol.
- Aspartame là vị ngọt nhân tạo dựa vào các amino acids là aspartic acid va phenylalnine, dùng trong các thực phẫm và cả nước uống. Đây là một chất được tìm vào năm 1965, và được dùng hiện tại tại Mỹ, Úc, và các nước Âu Á châu. Thế nên một nhóm các nh̀a khoa học coi nó như là độc chất của thần kinh (neurotoxin).
- Aspartame là một chất trắng , không mùi, nếu là bột thì câu tạo bột dưới dạng tinh thể, chứa vị ngọt gắt, hơn đường đến 200 lần, nhưng lại không cho năng lượng cao, như năng lượng của đường, nhưng lại không hoà vào các các thức ăn để tạo ra cái vị chung như đường, nên nó không thể dùng hay hoàn toàn thay thế đường. Tại sao nó không hoà vào các thức ăn được chế biến?
Được biết, 1gram aspartame thì cho 4 kilocalories, tương đương với 17 kilojoules, thế nên một hàm lượng nhỏ aspartame cũng dư đủ tạo ra vị ngọt, nên năng lượng do chúng tạo ra coi như không đáng kể, nên nó được thay thế đường cho những người thích vị ngọt mà muốn có ít calories. Còn cái vị ngọt của aspartame thì khác với vị ngọt của đường sugar. Vị ngọt của aspartame thì chậm hơn lúc đầu, nhưng lại kéo dài lâu hơn khi hết, hơn cả đường, nên người tiêu thụ cũng không nở phản đối từ chối. Nếu pha trộn aspartame với acesulfame potassium- thường thấy dưới tên acesulfame K- thì cho vị ngọt giống như đường, và ngọt hơn đường, hơn là chỉ dùng sô–lô một mình có nó. Trong aspartame có 3 thành phần: 50% do phenylalanine, 40% do aspartic acid, và 10% do methanol.Trong cơ thể methanol bị bẻ gãy thành formaldehyde. Các thử nghiệm trước đây của Viện Ramazzini cho thấy cả methanol và formaldehyde đều dễ gây bệnh bạch cầu và u lymphô. Tuy nhiên, có một số dạng ung thư mà nhóm nghiên cứu quan sát thấy không được nhắc tới trước đây. Điều này chứng tỏ rất cần nghiên cứu gấp khả năng gây ung thư của cả axit aspartic hoặc phenylalanine.
D-phenylalanine có thể làm giãm những cơn đau nhức kinh niên, với điều kiện của sức khỏe, nó kích thích các rãnh nhõ của não bộ để kiễm soát sự giãm đau. Ngoài ra D-phenylalanine còn cải thiện mọi sự cứng chắc trong cơ thể, sự đi đứng của ngưòi khuyết tật, của việc phát ra tiếng nói khó khăn, và nhiều vịệc liên quan đến do sự suy thoái do từ bịnh Parkison mà ra. Phenylalanine còn giúp sự giãm đau (analgesic) nhất là các bịnh đau lưng, đau răng, hay đau nhức đầu đông (migraine headaches).
Tuy nhiên, cái bất lợi do phenylalanine cũng đươc thấy do các triệu chứng sau đây sau khi dùng chúng: như sự rối loạn, thiếu năng lượng họat động, giãm tính lanh lợi (decreased alertness), giãm sút trí nhớ, ăn không ngon. Ngoài ra, phenylalanine có trong con người dù có lớn nhưng lớn trong còi cọc, tính lãnh đạm, hờ hững (apathy), bắp thịt teo lại, và yếu ớt.
Khi nhiệt độ tăng cao khoảng 90 F, thì các thành phần của aspartame bắt đầu biến thành formaldehyde gọi là thuốc uớp xác chết, Khi có nhiều fornaldehyde thì chính chất nầy lại giết chết các tế bào trong cơ thể. Tuy nhiên, chính formaldehyde có thể biến đổi thành formic acid, và formic acid nầy lại gây nên metabolic acidosis. Formic acid, có công thức là HCOOH, đó là chất độc, không màu, ăn mòn, mùi nồng hăng, nóng chày ở nhiệt độ, 8.40C, tan trong nước, rượu và eter, và tan trong các chất tạo ra khói, có tên khác là methanoic acid. Methanol toxicity có tính cách gia tăng sự gia cứng sclerosis do sự xơ hóa, nếu người mắc phải nó, và một khi có sự gia tăng của sự sơ cứng nhiều hơn thì dễ dẫn đến cái chết. Đó là cách hiểu tại sao phải tránh hút thuốc, tránh đừng hít khói vào phổi. Đó là nói về ảnh hưởng do aspartame gây nên. Aspartame ḅi bẻ gẫy thành methanol. Methanol biến nhanh thành formaldehyde trong cơ thể con người, với điều kiện đã nói. Từ lúc formaldehyde lại được tạo nên và hiễn nhiên làm hư hại hệ thống thần kinh, hệ thống miễn nhiễm, gây cho tr̉e sơ sanh bị khuyết dị tật dù cho dùng liều lượng nhỏ khi mẹ chúng vô tình ăn hay uống phải aspartame.. Tuy nhiên methanol từ nước giải khát và từ những nước ép do trái cây có hàm lượng methanol cao h ơn 10 lần hàm lượng methanol trong aspartame, nhưng trong nước ép trái cây lại có những chất bảo vệ chúng nên chúng không biến thành formaldehyde và gây nên mọi sự nguy hiễm.
Khi sử dụng Aspartame hằn ngày sẽ có triệu chứng nhức đầu, rồi bị đau nhức khắp người, nhất là ở vùng gáy (giống như triệu chứng của Fibromyalgia), nhức các khớp xương, hay chóng mặt, suy giảm tập trung (nhưng trí nhớ thì còn tốt), mắt mờ, có nhiều khi như muốn xỉu. Các triệu chứng này càng ngày càng nặng thêm.
Khi ngưng sử dụng các chất uống và các thức ăn có Aspartame. Chỉ độ 10 ngày sau đó thì các triệu chứng đã bớt được tới 70%.
3.2/ Nhóm chất tạo màu số 5 ( tartrazine)
[+] Spoiler
E102 là chất màu tổng hợp có màu vàng chanh, không chỉ được sử dụng phổ biến ở mì ăn liền mà còn có trong đồ uống, rượu, nước giải khát, snack v.v… Hiện dư luận đang e ngại trước thông tin mì ăn liền chứa E102 (hay phẩm màu Tartrazine) có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất là với nam giới vì ở Việt Nam, mì ăn liền là sản phẩm được tiêu thụ rất mạnh.
Phẩm màu E102 đã được Ủy ban hỗn hợp về phụ gia thực phẩm Quốc tế FAO/WHO (gọi tắt là JECFA) cũng như Ủy ban khoa học Châu âu nghiên cứu từ những năm 1965-1966; 1975;1984 trên cơ sở các bằng chứng khoa học và thực nghiệm đều thống nhất quy định mức ăn vào hàng ngày chấp nhận được ADI 0 - 7,5mg/kg thể trọng/ngày.

Năm 2009, trước thông tin một số kết quả nghiên cứu đơn lẻ cho rằng E102 có thể gây dị ứng, Cơ quan an toàn thực phẩm Châu Âu, Codex (ủy ban tiêu chuẩn hóa thực phẩm quốc tế) đã giao các Ủy ban Khoa học của mình nghiên cứu lại và kết quả cho thấy: Chưa đủ bằng chứng cơ sở khoa học để kết luận E102 gây các tác động mà một vài nghiên cứu nói trên nêu ra.
Không chỉ bị hạn chế sử dụng ở Nhật, Hàn Quốc, E102 còn bị cấm ở Na Uy, Áo và Phần Lan, bị hạn chế sử dụng ở Thụy Điển và Đức.
Nhiều chuyên gia lo ngại về ảnh hưởng lâu dài của phẩm màu vàng này lên sức khỏe của người tiêu dùng như kích thích cơn hen suyễn, gây lupus ban đỏ, hiếu động thái quá ở trẻ... Tuy nhiên, tác hại của phẩm màu này được nhắc đến trong khuyến cáo của ngành y tế Việt Nam mới chỉ là “lo ngại vấn đề dị ứng thức ăn vốn ở một tỷ lệ cao trong cộng đồng dân cư mà khó phân biệt dị ứng có thể do E102 hay do bản thân thực phẩm”.
Tại nước ta, đến thời điểm này, cơ quan chức năng đã khẳng định phẩm màu E102 an toàn nếu đúng liều. Tuy nhiên, điều nhiều người băn khoăn là phẩm màu này được dùng trong thực phẩm như thế nào là đúng liều lượng?
Cục An toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế) có thông báo chính thức trên trang web của mình rằng: “Ở Việt Nam việc sử dụng phẩm màu E102 đã quy định có tính pháp lý (quyết định 3742). Cục An toàn vệ sinh thực phẩm nhận thấy cho đến thời điểm hiện nay nếu phẩm màu này được sử dụng đúng hàm lượng theo quy định thì vẫn bảo đảm an toàn”.
Theo tiêu chuẩn do Codex Việt Nam mới đưa ra, ngưỡng ăn vào cho phép hằng ngày là từ 0 đến 7,5 mg trên mỗi kg thể trọng, có nghĩa là mức tiêu thụ hằng ngày tốt nhất nên là 0. Thế nhưng hiện nay, các sản phẩm có sử dụng phẩm màu tổng hợp E102 tại nước ta mới chỉ ghi chung chung có Tartrazine mà không ghi rõ hàm lượng của nó trong sản phẩm là bao nhiêu
GS.TS Lê Đức Mạnh, Viện trưởng Viện Công nghiệp Thực phẩm - Bộ Công thương cho biết, nghiên cứu khoa học trên thế giới cho thấy ở lứa tuổi từ 3/9, nếu sử dụng liên tục sản phẩm thực phẩm có chứa E102 một thời gian dài, sẽ bị ảnh hưởng. Mà rõ nhất là tăng sự hiếu động, dễ cáu gắt, kém tập trung của trẻ và ảnh hưởng đến sinh lý của nam giới.
3.3/ Nhóm sulfite
[+] Spoiler
Theo báo cáo cụ thể từ Trung tâm Chống độc, bệnh viện Bạch Mai: Ngày 14/4, Trung tâm tiếp nhận 5 người (trong số 13 thành viên của một gia đình ) trú tại số 5 ngách 24 Bạch Mai trong tình trạng khó chịu, khó thở, có cảm giác buồn nôn sau khi ăn nhộng tươi mua ở Trại Găng (khu vực gần phố Bạch Mai).
Cùng ngày có thêm 4 người trú tại tổ 6 Mai Động, Hoàng Mai nhập viện trong tình trạng tương tự. Theo khai báo; sau khi ăn nhộng tươi mua tại chợ Mai Động, 4 thành viên cùng trong gia đình có cảm giác váng đầu, khó thở, chóng mặt, buồn nôn… Tuy nhiên, cả 9 người của hai gia đình này đã hết các triệu trứng trên vào trưa hôm sau (15/4) và đã ra viện.
Theo chẩn đoán sơ bộ của các bác sĩ tại Trung tâm; đây là những trường hợp dị ứng do tác dụng phụ của natri sunfit (là chất bảo quản nằm trong danh mục cho phép của bộ Y tế).
Sau đó, Trung tâm đã gửi báo cáo và mẫu nhộng lưu lên Sở Y tế để Trung Tâm Y tế Dự phòng làm các xét nghiệm cần thiết nhằm kiểm tra dư lượng natri sunfit có trong mẫu nhộng.
Hôm qua (6/5), Ông Đỗ Lê Huấn, Giám đốc Trung Tâm Y tế Dự phòng, Sở Y tế Hà Nội đã đưa ra kết luận cuối cùng về sự việc này, cụ thể:hàm lượng natri sunfit tại mẫu nhộng nằm trong mức độ cho phép do Bộ Y tế quy định (dưới 30mg/kg). 9 trường hợp nhập viện do ăn nhộng tằm có thể là do cơ địa phản ứng với chất này.
Theo ông Lê Anh Tuấn, giám đốc Sở Y tế Hà Nội: tuy đây không phải là những vụ ngộ độc tập thể, nhưng những người có cơ địa hay dị ứng cũng nên cảnh giác với những loại thức ăn lạ.
3.4/ Nhóm bột ngọt
[+] Spoiler
Bột ngọt (hay mì chính) là muối natri của axit glutamic, một trong hơn 20 loại axit amin để kiến tạo nên protein cơ thể, cần thiết cho sự tăng trưởng, chuyển hóa thần kinh và chức năng của não bộ con người.
Tên hóa học:
Theo tiếng Việt là Natri glutamat.
Theo tiếng Anh là Monosodium glutamate monohydrate, viết tắt là MSG.
Tên quốc tế và cộng đồng châu Âu: INS 621, EEC 621 (thường gọi là chất điều vị 621).
- Công thức cấu tạo của axit glutamic là:

- Công thức cấu tạo của natri glutamat là:

•Tính chất vật lí và sự tồn tại của bột ngọt
Bột ngọt tự nhiên:
Theo Hội khoa học kĩ thuật an toàn vệ sinh thực phẩm Việt Nam thì: bột ngọt có sẵn trong các thực phẩm tự nhiên như trong thịt, cá, sữa (kể cả trong sữa mẹ) và trong rau quả như cà rốt, đậu, ngô... Trong khoảng 100g cà chua hiện hữu 0,14g bột ngọt; 0,044g/100g thịt gà; 0,043g/100g tôm. Cơ thể con người cân nặng từ 60kg đến 70kg, thì lượng protein chiếm từ 14 đến 17% trong đó có khoảng 1/5 là bột ngọt.
Bột ngọt sản xuất
Bột ngọt được sản xuất thông qua quá trình lên men (tương tự như lên men bia, giấm, nước chấm...) từ các nguyên liệu tự nhiên như mật mía đường, tinh bột ngũ cốc. Người ta thường dùng các loại như mía, khoai mì, sắn, ... để làm nguyên liệu chế biến bột ngọt.
Bột ngọt và sức khỏe con người
Bột ngọt không có kết cấu màu hoặc mùi vị đặc trưng nên được dùng trong nhiều món ăn và làm tăng cường hương vị gốc một cách tự nhiên. Khi pha vào món ăn, bột ngọt tan trong nước, ngấm vào thức ăn và làm cho thức ăn thêm đậm đà mà không thay đổi màu lẫn mùi vị. Bột ngọt giúp gia tăng hương vị tự nhiên của thực phẩm chứa nhiều chất đạm như cá, thịt... Nó còn kết hợp tốt với vị mặn và chua, nhưng không có tác dụng gì với vị ngọt và đắng.
Mặc dù bột ngọt được cho là chất phụ gia an toàn trong liều lượng cho phép, nhưng không phải vì thế mà ta có thể vô tư sử dụng và “lờ đi” những tác hại nghiêm trọng đã được thông báo từ nhiều tài liệu đáng tin cậy.
Chưa chắc khi ta cho nhiều bột ngọt vào thức ăn sẽ làm thức ăn ngon hơn. Ngoài ra bản thân bột ngọt không có giá trị dinh dưỡng; khi lạm dụng còn có nguy cơ gây hại sức khỏe.Một số người có cơ địa dị ứng, khi ăn nhiều thức ăn chứa nhiều bột ngọt có thể gặp các triệu chứng đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, vì vậy khi sử dụng bột ngọt cần thận trọng.
Như chúng ta đã biết natri glutamat có sẵn trong thức ăn hàng ngày. Một khẩu phần ăn dù đạm bạc cũng đủ cung cấp lượng Na+ và glutamat cho cơ thể. Do đó, ăn bột ngọt không hề giúp bổ não như lời đồn trước đây mà còn làm tăng thêm lượng các chất này trong cơ thể. Trong bột ngọt, lượng natri chiếm khoảng 13% (khoảng 1/3 so với muối ăn), ăn nhiều bột ngọt đồng nghĩa với ăn nhiều natri. Các ion natri tập trung ở ngoài màng tế bào giữ chức năng thẩm thấu, đảm bảo sự ổn định của lượng chất lỏng cũng như sự cân bằng giữa tính axit và tính kiềm của cơ thể. Khi lượng ion natri tăng cao, sự cân bằng này sẽ bị phá vỡ dẫn tới lượng nước trong tế bào tăng lên (làm ự nước), tăng trương lực của thành mạch, gây co mạch, tăng sức cản ngoại vi, có thể làm tăng huyết áp hoặc béo phì. Còn glutamat là chất dẫn truyền thần kinh kích thích có khắp nơi trong hệ thống thần kinh trung ương. Do đó, nếu dùng bột ngọt quá nhiều có thể gây ảnh hưởng đến thần kinh, đau mỏi đốt sống cổ, rối loạn hoạt động não, gây mất trí nhớ. Chưa kể gan và thận do phải làm việc cật lực để thải hồi các chất độc này ra khỏi cơ thể, dẫn đến bị suy yếu và gây nhiều rối loạn.
Theo kết quả báo cáo dài 350 trang (hoàn thành ngày 31/7/1995) của hội Thử nghiệm sinh học liên bang Mỹ, những phản ứng phụ do sử dụng bột ngọt là:
• Cảm giác nóng ran như cháy khắp cổ, ngực và phần trước cánh tay.
• Tê sau cổ và từ cánh tay trở lên
• Ngứa ran khắp mặt, cổ, lưng và tay
• Nhức đầu, buồn nôn
• Tức ngực, khó thở
• Đau tim, suy nhược

LỜI KẾT
[+] Spoiler
Như vậy phụ gia rất cần thiết không thể thiếu trong ngành công nghệ thực phẩm nói riêng cũng như các ngành công nghiệp khác nói chung. Phụ gia cũng có những loại tốt ( trong liều lượng cho phép) và loại gây độc cho người tiêu dùng. Phụ gia có mặt hầu hết trong các sản phẩm thực phẩm, do đó chúng ta rất khó mà biết đâu là sản phẩm có bổ sung phụ gia ở mức cho phép và đâu là không. Vì thế khi sử dụng bất cứ một loại sản phẩm nào ta cũng nên chú ý đến nguồn gốc xuất xứ cũng như thương hiệu của nó, một thương hiệu uy tín có mặt lâu trên thị trường thì chắc chắn khi sản xuất ra một sản phẩm muốn bổ sung bất kì phụ gia nào nó cũng phải theo qui định của nhà nước. Trên mỗi nhãn hiệu của sản phẩm đều có ghi rõ thành phần có trong sản phẩm, nếu người tiêu dùng gặp phải trường hợp bị mẫn cảm đối với sản phẩm đó thì nên hỏi bác sĩ đó là chất gì để sau này khi sử dụng bất cứ sản phẩm nào khác mà có chất đó ta sẽ tránh không nên sử dụng. Bài này chúng tôi chỉ nêu một vài chất gây mẫn cảm thường gặp ở người. Tuy vào cơ địa của mỗi người mà có mẩn cảm với mỗi loại phụ gia khác nhau.
Quote
Like
Share

Joined: July 21st, 2011, 2:24 am

August 8th, 2011, 2:07 am #2

Chào nhóm!
Cho mình hỏi các triệu chứng biểu hiện khi bị dị ứng Aspartame ( ASP) ?
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 7:10 am

August 8th, 2011, 8:47 am #3

Chào nhóm! Theo nhóm, thì nguyên nhân gây ra sự mẫn cảm là do sử dụng quá nhiều chất phụ gia trong chế biến,bảo quản. vậy theo nhóm,thông thường khi chế biến một sản phẩm nào đó thì những loại phụ gia nào được sử dụng chung với nhau và liều lượng sử dụng là bao nhiêu là đủ để không gây ra những triệu chứng dị ứng, mẫn cảm
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 2:04 pm

August 8th, 2011, 9:52 am #4

Chào nhóm!
Mình đã đọc các loại mẫn cảm của con người do phụ gia mà nhóm đưa ra! Nhóm có thể đưa ra vài lời khuyên cho những ai hay bị mẫn cảm khi dùng thực phẩm có 1 số phụ gia như vậy không, và cách giải quyết khi con người mắc phải những triệu chứng mẫn cảm đó như thế nào?
Quote
Like
Share

Joined: July 21st, 2011, 10:32 am

August 8th, 2011, 1:27 pm #5

:wub: Mình muốn hỏi tác dụng phụ của bột ngọt đến cơ thể khi dùng lâu, và cơ chế tác dụng lên cơ thể như thế nào? hủy hoại cơ thể ra sao va liều lượng tốt nhất bộ y tế khuyên dùng là bao nhiu? thank bạn.
Quote
Like
Share

Joined: August 7th, 2011, 10:51 am

August 8th, 2011, 3:03 pm #6

Chào nhóm!
Trong bài nhóm bạn có ghi: "ASP thường được dùng để thay thế cho việc sử dụng các loại đường làm từ mía ở các bệnh nhân tiểu đường, thực phẩm hay bánh kẹo được sản xuất công nghiệp (để tiết kiệm) và còn bị lạm dụng trong các hàng quán nhỏ (chè, kem)". Vậy liều lượng ASP sử dụng như thế nào là tốt? liều lượng sử dụng như thế nào gọi là lạm dụng? Và nhóm bạn có thể ví dụ cho mình biết những sản phẩm nào dùng ASP để tiết kiệm chi phí?
:m009:
Quote
Like
Share

Joined: August 7th, 2011, 10:51 am

August 8th, 2011, 3:15 pm #7

Chào nhóm!
Mình đọc bài của nhóm và không rõ câu này: "Bột ngọt (hay mì chính) là muối natri của axit glutamic, một trong hơn 20 loại axit amin để kiến tạo nên protein cơ thể, cần thiết cho sự tăng trưởng, chuyển hóa thần kinh và chức năng của não bộ con người". Bạn có thể giải thích rõ hơn không? Cơ chế của các hoạt động này?
:m009:
Quote
Like
Share

Joined: July 21st, 2011, 11:36 am

August 9th, 2011, 10:55 am #8

Bạn giải thích cho mình về những biểu hiện có thể xảy ra do sự mẫn cảm của phụ gia??Có cách nào để hạn chế sự mẫn cảm của phụ gia hay không??
Quote
Like
Share

Joined: July 24th, 2011, 12:29 pm

August 9th, 2011, 2:09 pm #9

Chào nhóm!!
Nhóm có thể giải thích rõ hơn về cơ chế tác dụng của các chất phụ gia đối với cơ thể con người mà nhóm đã nêu trong bài.
Quote
Like
Share

Joined: July 20th, 2011, 4:28 am

August 9th, 2011, 2:10 pm #10

Chào bạn, bạn cho mình hỏi Aspartame là chất ngọt gây nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng vậy tại sao nó vẫn được ưa chuộng và bày bán rộng khắp???
Quote
Like
Share

Confirmation of reply: