Nhóm 23 - Phụ gia làm tăng tính dinh dưỡng của thực phẩm - khoáng đa lượng

Joined: August 4th, 2011, 4:55 am

August 12th, 2011, 1:36 pm #1

IV. VÀI CHẤT KHOÁNG ĐA LƯỢNG CƠ BẢN
Tầm quan trọng của các chất khoáng không chỉ ở giá trị dinh dưỡng và sinh lý, nó còn ảnh hưởng tới cấu trúc và hương vị của thực phẩm, nó có thể hoạt hóa hay vô hoạt các enzyme cũng như tham gia vào nhiều phản ứng khác trong cơ thể.
Trong cơ thể có trên 60 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại được xem là cần thiết. Khoáng chất chỉ chiếm 4% trọng lượng cơ thể.
Sau đây là một số khoáng chất quan trọng:
4.1 Calci
[+] Spoiler
Canxi, khoáng chất phong phú nhất trong cơ thể, được tìm thấy trong một số thực phẩm, có sẵn hoặc được bổ sung vào chế độ ăn uống. Canxi cần thiết cho sự co lại và giãn mạch của mạch máu, chức năng cơ, dẫn truyền thần kinh, các tín hiệu trong tế bào và tiết ra nội tiết tố, mặc dù ít hơn 1% tổng lượng canxi cơ thể cần thiết để hỗ trợ các chức năng trao đổi chất quan trọng. cơ thể sử dụng mô xương như là một nguồn dự trữ cung cấp canxi, để duy trì liên tục của nồng độ canxi trong máu, cơ bắp, và chất lỏng intercellular .
Vitamin D và pH acid làm tăng khả năng hấp thu canxi. Khẩu phần ăn nhiều protein làm giảm hấp thu canxi. Acid Phytic, acid béo no, acid oxalic cũng làm giảm khả năng hấp thu canxi.
US. RDA cho canxi là 1000mg. Lượng canxi lấy vào là tỷ lệ canxi/photpho, đối với người lớn là 1: 1; trẻ em dưới 7 tuổi là 1: 0, 7. Các dạng canxi được phép cho vào thực phẩm như là phụ gia dinh dưỡng như: canxi cacbonat; canxi clorua; canxi citrate; canxi glycerophotphat; canxi hydroxyt; canxi oxit; canxi mono – , di – , tri – photphat; canxi pyrophotphat; canxi sunfat.
Calci đặc biệt có nhiều trong sữa và các phó sản như pho mát, sữa chua. Cho tới tuổi 20, xương có thể hấp thụ và dự trữ cần thiết cho sự tăng trưởng cơ thể và duy trì các chức năng khác. Sau đó thì cơ thể dùng nhiều calci hơn để xương cứng chắc. Do đó, nếu ta không tiêu thụ đầy đủ calci, xương sẽ bị rỗng loãng, dễ gẫy cũng như rụng răng.
Đặc tính
Canxi là một kim loại màu xám bạc, mềm được điều chế bằng phương pháp điện phân từ fluorua canxi. Nó cháy với ngọn lửa màu vàng-đỏ và tạo thành một lớp nitrua che phủ có màu trắng khi để ngoài không khí. Nó có phản ứng với nước tạo ra hiđrô và hiđrôxít canxi.
Ứng dụng
Canxi là một thành phần quan trọng của khẩu phần dinh dưỡng. Sự thiếu hụt rất nhỏ của nó đã ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của xương và răng. Thừa can xi có thể dẫn đến sỏi thận. Vitamin D là cần thiết để hấp thụ canxi. Các sản phẩm sữa chứa một lượng lớn canxi.
4.2 Phospho
[+] Spoiler
Về số lượng trong cơ thể, phospho đứng thứ nhì sau calci và chiếm khoảng 1% trọng lượng toàn thân với khoảng 650g.
Trung bình 80% phospho ở trong xương và răng, cùng với calci giúp các bộ phận này cứng mạnh. Phần còn lại nằm trong các mô tế bào mềm và hỗ trợ cho nhiều chức năng. Một lít máu có khoảng 400mg phospho.
Phospho do thực phẩm cung cấp được tá tràng (duodenum) hấp thụ dễ dàng và nhiều hơn calci: 70% được giữ lại cho nhu cầu cơ thể và 30% được thận thải ra ngoài. Sự hấp thụ tùy thuộc vào nhu cầu, nguồn cung cấp, tỷ lệ calci/phospho, nồng độ acid ở ruột và lượng vitamin D.
Phospho trong máu được điều hòa bởi hormon của tuyến giáp và tuyến cận giáp, tương tự như calci.
Công dụng
Calci và phospho thường liên kết hoạt động với nhau, nhất là ở xương và răng. Phospho rất cần cho:
– Sự tạo thành và bảo trì xương, sự tăng trưởng răng.
– Sự tạo thành sữa và bắp thịt.
– Sự sản xuất năng lượng.
– Sự cấu tạo của DNA, RNA là những yếu tố kiểm soát sự di truyền và tăng trưởng, bảo trì tế bào.
– Sự hấp thụ glucose và chuyên chở các acid béo dưới dạng phospholipid. Phospholipid là một phần của màng bọc tế bào, giúp màng này điều hòa sự xuất nhập của một vài hóa chất ở tế bào.
Có ý kiến cho rằng nếu không có phospho thì sẽ không có sự phân bào, tim không đập và trẻ sơ sinh không tăng trưởng.
Nguồn cung cấp
Phospho có rất nhiều trong các loại thức ăn như đậu phộng, cá, thịt heo, bò, gà, các sản phẩm từ sữa bò, trứng, các loại đậu, quả hạch...
Sữa là nguồn cung cấp phong phú cả calci và phospho.
Nhu cầu
Nhu cầu hằng ngày là 800mg cho người từ 19 đến 70 tuổi; 1250mg cho trẻ em từ 9 đến 18 tuổi và cho đàn bà có thai hoặc đang cho con bú.
Khoáng chất này ít khi thiếu hụt, vì trong thực phẩm có rất nhiều. Tuy vậy, thiếu phospho có thể xảy ra khi ta dùng nhiều thuốc giảm acid dạ dày, hoặc chỉ ăn chay không dùng sữa, thịt...
Triệu chứng thiếu phospho là mệt mỏi, kém khẩu vị, biếng ăn, đau nhức xương. Thiếu quá lâu có thể đưa tới loãng xương.Quá nhiều phospho trong máu có thể gây trở ngại cho việc hấp thụ sắt và calci.
4.3 Magnesium
[+] Spoiler
Khoáng chất này có khá nhiều vai trò quan trọng và hầu như tế bào nào cũng cần đến, nhưng với lượng rất ít. Toàn bộ cơ thể chỉ có khoảng gần 30g magnesium (Mg) với 60% trong xương, số còn lại lưu hành trong máu (2%), và các mô mềm (28%). Gan và bắp thịt có nhiều Mg hơn các mô mềm khác.
Magnesium là thành phần của nhiều loại enzym trong cơ thể. Mg hữu cơ là quan trọng cho cả thực vật và động vật. chất diệp lục (Clorôphin) là các porphyrin có magiê ở trung tâm. Nhiều loại enzym cần có cation magiê cho các phản ứng xúc tác của chúng, đặc biệt là các enzym sử dụng ATP. Đây là những chất rất cần thiết để điều hòa việc sản xuất năng lượng, cấu tạo chất đạm và DNA, chuyển hóa chất dinh dưỡng.
Cùng với calci, Mg giúp xương vững chắc và duy trì huyết áp bình thường; giúp bắp thịt co duỗi; chuyên chở calci và kali trong máu, giúp điều hòa nhịp tim đập.
Khi cơ thể thiếu magnesium thì huyết áp có thể lên cao, nhịp tim đập bất thường, có thể dẫn đến tình trạng nhồi máu cơ tim. Đồng thời sự co giãn của bắp thịt bị rối loạn, trong người mệt mỏi, buồn rầu, biếng ăn.
Thực ra, ít khi xảy ra thiếu Mg vì khoáng chất này có nhiều trong thực phẩm. Nhưng nếu bị ói mửa, tiêu chảy kéo dài, bị bệnh thận, gan, uống nhiều rượu hoặc dùng thuốc lợi tiểu thì có thể bị thiếu Mg. Các triệu chứng thiếu Mg là táo bón, mất ngủ, mất định hướng, bị ảo giác...
Điều cần lưu ý là những người cao tuổi thường bị táo bón, và hay dùng sữa Mg (magnesium hydroxide) để nhuận tràng. Nếu dùng loại thuốc này quá thường xuyên và kéo dài, thận không kịp bài tiết, khiến Mg tích tụ trong máu, có thể gây trúng độc. Người bệnh cảm thấy chóng mặt, buồn ngủ, kiệt sức, đổ mồ hôi, tiếng nói lơ lớ, đi đứng không vững và tim đập không đều.
Nhiều Mg đến mức ngộ độc là trong trường hợp suy thận, không thải được lượng Mg thừa, có thể đưa tới rối loạn hô hấp, suy tim, hôn mê.
Nguồn cung cấp magnesium gồm có hạt vừng, cám lúa mạch, rau có màu lục, thịt, sữa, quả hạch, các loại đậu, hạt, chuối, mận...
Nhu cầu hằng ngày của đàn ông là 350mg, đàn bà là 280mg. Phụ nữ trong giai đoạn mang thai hoặc cho con bú nên tăng thêm khoảng 20mg mỗi ngày
4.4 Kali (potassium)
[+] Spoiler
Kali giống như natri, mang điện tích dương. Nó là chất cân bằng của natri và đóng vai trò căn bản trong quá trình phân phối nước của cơ thể.
Trong cơ thể của người nặng 70kg chứa khoảng 140 kali, trong đó 90% được nằm trong tế bào và lượng kali ở dịch ngoài bào là rất ít. Nồng độ của nó trong dịch tiêu hóa cao hơn trong huyết tương.
Vai trò của kali
Natri bị đẩy ra dịch ngoài bào bằng cách trao đổi ion với kali bên trong tế bào. Vì vậy, không gì ngạc nhiên khi nhận thấy rằng : Natri về mặt số lượng là cation chính của ngoại bào, và kali là cation chính của nội bào. Nồng độ của chúng ở trong và ngoài màng tế bào là cân bằng, nhưng kali không kéo nước giống như natri.

Natri cũng góp phần tạo cân bằng toan - kiềm. Trong chức năng này, nó được trao đổi ion với hydro, được gọi là “proton”.

Sự cân bằng giữa tất cả ion này giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với mô tim. Nếu thiếu hay thừa kali trong cơ tim thì rối loạn nhịp có thể xảy ra, cũng như thiếu magesi, ôxy do co thắt động mạch, vành hay do tắc mảng xơ vữa hoặc nút tiểu cầu, gây ra tình trạng mệt tế bào. Khi đó, thay vì tạo ra năng lượng chúng lại tiết ra acid lactic và gây nhiễm acid tại vị trí được tạo ra, khiến cho tế bào cơ tim mất kali, điều này tạo thuận lợi cho vấn đề càng nghiêm trọng thêm. Kali được huy động bởi các tế bào khi tổng hợp và được giải phóng trong những tình huống ngược lại. Quá trình xây dựng những cấu trúc nhân tử mới được gọi là “đồng hóa”, phá hủy chúng được gọi là “dị hóa”. Đồng hóa trội hơn trong lúc có thai, tăng trưởng, hoặc phát hiện cơ, còn dị hóa sẽ xảy ra lúc bị nhiễm trùng, bỏng và lúclão hóa. Trong những tình huống này, dự trữ toàn bộ kali sẽ giảm tỉ lệ so với khả năng mất khối cơ và dự trữ năng lượng.

Thức ăn cung cấp Kali
Kali được mang vao từ thức ăn, thay đổi từ 2 đến 6g/ngày. Nguồn chính là trái cây khô, hạt có dầu, chuối, rau tươi, ngũ cốc. Phần lớn các thực phẩm giàu kali sẽ nghèo natri. Người ta cũng tìm thấy một vài thức uống có chứa kali như chocolat và chè.
Nguồn tự nhiên về kali
Bột đậu nành
Trái cây khô
Đậu Haricots
Hạt có dầu
Rau tươi
Cá hồi, gan
Artichauts
Chuối
Trái cây khác
Gạo toàn phần
Gạo trắng
Nhu cầu hàng ngày về kali
Nhu cầu kali không tính được chính xác. Thực phẩm mang đến nhiều kali hơn natri sẽ được đi kèm với giảm nguy cơ cao huyết áp. Trong tình trạng hiện nay, phần lớn là ngược lại, nhu cầu tăng ở những lần bị nôn mửa hay ỉa chảy trầm trọng, kéo dài, những người được điều trị bởi thuốc làm mất kali. Như thuốc xổ, corticoid, lợi tiểu và ở trẻ tiêu thụ quá nhiều cam thảo.
Triệu chứng thiếu kali
Mất cân bằng trong quá trình phân bố kali giữa môi trường nội bào và ngoại bào xuất hiện thường xuyên hơn là thiếu hụt. Phần lớn những rối loạn của quá trình phân bố được thể hiện bởi đặc tính giữ nước và được kết hợp với natri đi vào nhiều trong tế bào, đồng thời kali sẽ ra khỏi tế bào.
Với tình trạng mất cấp hay mạn gây ra thiếu trầm trọng sẽ có nguy cơbị liệt, bao gồm liệt ruột và loạn nhịp.
Triệu chứng thừa Kali
Dùng kali quá liều có thể gây loét thành ruột, nếu dùng dưới dạng thuốc viên. Ngoài ra, quá liều hay do tích lũy kali điều trị suy thận, sau hỏng hoặc chấn thương bằng thuốc chứa nhiều kali sẽ nguy hiểm cho tim vì chức năng của tim lệ thuộc vào khả năng cân bằng tốt ion. Nó có thể đưa tới nguy cơ rối loạn nhịp, thậm chí ngừng nhịp.
4.5 Chloride
[+] Spoiler
Tổ chức cơ thể chứa khoảng 74g Clo, chủ yếu ngoài tế bào. Trong huyết tương có nhiều hơn khoảng 10 lần so với dịch nội bào. Một phần được cố định ở mô.
Vai trò:
Clo là anion chủ yếu của dịch ngoại bào. Nó cùng với natri và calci tham dự vào quá trình phân bố nước trong tổ chức và duy trì cân bằng acid - kiềm. Thật là khó khăn để tách rời sự hấp thu vai trò sinh lý, và sự bài tiết của chúng ta khỏi natri. Đặc biệt, nó đóng vai trò quan trọng quá trình tiêu hóa. Nó còn tham gia vào hoạt động tiết dịch dạ dày, đồng thời được kết hợp với ion H2 để hình thành acid HCL.
Nhu cầu hàng ngày về Clo :
Từ 1 đến 2g trên ngày, được cung cấp đủ từ thức ăn và muối của quá trình đồng hóa. Nhu cầu tiêu thụ trung bình Nacl là trên 10g/ngày, tức là trên 6g clo/ngày.
Triệu chứng khi thiếu Clo :
Thiếu xảy ra khi đi chảy hay nôn mửa nhiều dịch dạ dày. Nó không có những dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu.
Thừa Clo:
Xảy ra lúc bị mất nước : do mất nước hay dư thừa muối, trong một số bệnh nhân. Theo những công trình của người Nhật, thừa clo sẽ tạo điều kiện tăng nguy cơ ung thư dạ dày.
Clo trong Thực phẩm :
Chloride được tìm thấy trong hầu hết tất cả các thực phẩm muối được thêm vào, thường với số lượng lớn, trong quá trình chế biến hoặc nấu.
Thực phẩm chứa clorua cao là muối ăn và muối biển (natri clorua) • sản phẩm thay thế muối như clorua kali rong biển (như dulse và tảo bẹ) • ô liu • lúa mạch đen loại rau như cần tây, rau diếp, cà chua • bảo quản các loại thịt như thịt xông khói, giăm bông, xúc xích • chế biến hoặc các loại thực phẩm đóng hộp hoặc nhanh chóng có nhiều chất muối.
Các nguồn thực phẩm clorua khác bao gồm • pho mát rau nấm men chiết xuất như clorua kali được tìm thấy trong hầu hết các loại thực phẩm.
4.6 Natri(Sodium)
[+] Spoiler
Nguồn cung cấp natri chính yếu trong thức ăn là muối ăn (NaCl), được dùng làm gia vị cũng như để bảo quản thực phẩm.
Trong cơ thể có khoảng 100g natri. Mỗi lít huyết tương chứa khoảng 3,2g natri. Khoảng 50% natri nằm trong dung dịch ngoài tế bào, 40% trong xương và 10% trong tế bào.
Thường thường, trong ăn uống người ta có thói quen tiêu thụ nhiều natri hơn là calci và sắt. Muối ăn được dùng rất phổ biến trong việc nấu thức ăn, ướp thịt, cá, đóng hộp thực phẩm, làm xì dầu, nước tương...
Natri giữ các chức năng sau đây trong cơ thể:
– Điều hòa nồng độ acid/kiềm và sự xuất nhập dịch lỏng ở tế bào.
– Giúp cơ thịt thư giãn.
– Giúp dẫn truyền các tín hiệu thần kinh.
– Giúp điều hòa huyết áp động mạch.
– Có vai trò đặc biệt trong sự hấp thụ carbohydrat.
– Là thành phần cấu tạo mật, dịch vị, tụy tạng, mồ hôi, nước mắt.
Bình thường, cơ thể ít khi bị thiếu natri, trừ phi bị ói mửa, tiêu chảy kéo dài, thận suy hoặc ăn nhạt không muối. Thiếu natri tạo cảm giác buồn nôn, chóng mặt, cơ thịt co rút, bài tiết mồ hôi quá nhiều khi làm việc, vận động cơ thể ngoài nắng...
Một số ít người nhạy cảm với natri, khi tiêu thụ nhiều quá có thể đưa đến tích tụ natri trong cơ thể, làm dịch lỏng ứ đọng, gây sưng phù, tăng huyết áp... Với người bình thường thì khi ăn nhiều, natri sẽ được bài tiết ra ngoài.
Nhu cầu hằng ngày của natri cũng như các chất điện phân khác chưa được xác định, nhưng mức tiêu thụ an toàn mỗi ngày tối thiểu là 0,5g và tối đa không quá 2,5g. Đầu năm 2004, một số chuyên gia y tế khuyên nên giảm lượng natri tối đa xuống ở mức 1,5g trong một ngày.
Khoảng 80% nhu cầu natri được cung cấp từ các thực phẩm bảo quản, số còn lại là từ muối ăn dùng khi nấu nướng hoặc có sẵn trong thực phẩm.
Một muỗng muối ăn chứa khoảng 500mg natri, một lít sữa mẹ chứa khoảng 160mg và sữa bò có chừng 450mg.
Các nguồn khác của natri trong thực phẩm tự nhiên trong gần như tất cả các loại thực phẩm như sữa, thịt, tôm, cua, sò, hến, rau.
Quote
Like
Share

Joined: August 13th, 2011, 3:17 pm

August 15th, 2011, 10:18 am #2

Cho mình hỏi:
Liều lượng sử dụng của các loại khoáng : Calci, Phospho, Magnesium, Kali, Chloride, Natri ntn?
trong bài nhóm có nói đến 20 loại khoáng chất cần thiết đó là những loại nào?
cảm ơn nhóm.
Quote
Like
Share

Joined: August 4th, 2011, 4:55 am

August 15th, 2011, 1:29 pm #3

DH6BLT-NguyenThiThuyen_10342271 wrote:Cho mình hỏi:
Liều lượng sử dụng của các loại khoáng : Calci, Phospho, Magnesium, Kali, Chloride, Natri ntn?
trong bài nhóm có nói đến 20 loại khoáng chất cần thiết đó là những loại nào?
cảm ơn nhóm.
Chào bạn! Nhóm mình xin trả lời thắc mắc của bạn như sau:
- Liều lượng sử dụng các loại khoáng đa lượng như sau:
Photpho: Photpho hiện diện trong thức ăn nên nó không được sử dụng là phụ gia dinh dưỡng, ngoại trừ thức ăn cho trẻ dưới 7 tuổi. Theo U.S RDA (Recommended Dietary Allowance – Các khoản phụ cấp khuyến nghị chế độ ăn uống)cho khoáng chất này là 700g.
Mangie: Giống như photpho, mangie là một nguyên tố có mặt ở khắp mọi nơi nên được cung cấp nhiều trong thức ăn. U.S RDA cho mangie là 400mg.
Canxi: 1000mg.
Natri: 1500mg
Kali: Tuỳ thuộc vào nhóm tuổi như sau:
Đối tượng Nhóm tuổi Nhu cầu (mg/ngày)
Trẻ em 0 – 5 tháng 500
5 – 11 tháng 700
1 tuổi 1000
2 – 5 tuổi 1400
6 – 9 tuổi 1600
Thanh thiếu niên 10 – 18 tuổi 2000
Người trưởng thành trên 18 tuổi 2000
- Trong cơ thể có trên 60 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại được xem là cần thiết. Bao gồm các chất như sau: Canxi, Magnesium, Sắt, Selenium, Chromium, Iốt, Molypden, Kẽm, Mangan, Đồng, Bo, Strontium, Silicon, Vanadium, Tin, Nickel, Germanium, Cesium, Rubidi, Cobalt.

Quote
Like
Share

Joined: July 20th, 2011, 4:28 am

August 15th, 2011, 2:08 pm #4

wrote:Khẩu phần ăn nhiều protein làm giảm hấp thu canxi
Bạn ơi, bạn có thể giải thích thêm về điều này k bạn??? m015
Quote
Like
Share

Joined: August 8th, 2011, 2:00 pm

August 16th, 2011, 2:38 am #5

dhtplt6a_hoangaichau_10304731 wrote:
wrote:Khẩu phần ăn nhiều protein làm giảm hấp thu canxi
Bạn ơi, bạn có thể giải thích thêm về điều này k bạn??? m015
Chào bạn,nhóm mình xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:
Để xương chắc, bạn phải được cung cấp đủ canxi. Tuy nhiên, không phải thực phẩm giàu canxi nào cũng có giá trị. Nếu hàm lượng khoáng chất này cao nhưng có tương quan không thích hợp với magie và phospho thì cơ thể sẽ khó hấp thu canxi.

Ăn uống hợp lý là một trong 2 yếu tố cơ bản nhất giúp phòng ngừa bệnh loãng xương, bên cạnh việc rèn luyện thể lực. Chế độ ăn cần bảo đảm đủ đạm theo nhu cầu từng lứa tuổi; bình thường chất này chiếm 12% số calo trong khẩu phần. Nếu thiếu đạm (dưới 5,5% lượng calo), xương sẽ ngừng phát triển, cấu trúc hình thái của xương thay đổi, lượng canxi trong máu giảm. Còn việc ăn quá nhiều đạm sẽ làm tăng đào thải canxi qua thận, làm tăng nguy cơ gãy xương.

Để tránh loãng xương, bạn nên dùng các loại thực phẩm từ thực vật có các chất giống nội tiết tố nữ như đậu phụ, sữa đậu nành, giá đỗ...
Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho nhóm mình!
Quote
Like
Share

Joined: July 20th, 2011, 9:00 am

August 16th, 2011, 9:58 am #6

chào nhóm!
cho mình hỏi khi thừa các chất trên thì cơ thể có những bệnh gì sẽ xảy ra? và có lời khuyên gì cho những người có thói quen ăn mặn, và ăn nhạt không?
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 3:37 am

August 16th, 2011, 10:45 am #7

Chào nhóm!
Nhóm cho mình hỏi là các nguyên tố đa lượng kể trên, nguyên tố nào được bổ sung vào thực phẩm và bổ sung ở dạng nào ? Và có quy định nào tại Việt Nam về việc sử dụng các phụ gia đó bổ sung vào thực phẩm hay không ? Cám ơn nhóm nhiều.
Quote
Like
Share

Joined: August 4th, 2011, 4:55 am

August 16th, 2011, 1:19 pm #8

dhtp6clt-ng.thingocthu-10319451 wrote:chào nhóm!
cho mình hỏi khi thừa các chất trên thì cơ thể có những bệnh gì sẽ xảy ra? và có lời khuyên gì cho những người có thói quen ăn mặn, và ăn nhạt không?
Chào bạn! Nhóm mình xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:
Các chất khoáng đa lượng thì rất cần thiết cho cơ thể, nhưng khi cung cấp nhiều hơn lượng cho phép thì cũng sẽ gây ra các chứng bệnh cho cơ thể như sau:
- Việc thừa canxi từ nguồn thực phẩm như sữa, thức ăn là an toàn vì phần thừa sẽ được thải ra ngoài qua đường tiểu. Còn canxi thừa do thuốc sẽ gây sỏi thận, tăng canxi máu, táo bón, buồn nôn, ăn không ngon, đau xương, thậm chí khiến trẻ em bị lùn vì cốt hóa xương sớm, khiến xương không phát triển.
- Quá nhiều phospho trong máu có thể gây trở ngại cho việc hấp thụ sắt và calci.
- Nhiều Mg đến mức ngộ độc là trong trường hợp suy thận, không thải được lượng Mg thừa, có thể đưa tới rối loạn hô hấp, suy tim, hôn mê.
- Quá nhiều kali trong máu có thể gây rối loạn nhịp tim.
- Thừa Clo: Xảy ra lúc bị mất nước : do mất nước hay dư thừa muối, trong một số bệnh nhân. Theo những công trình của người Nhật, thừa clo sẽ tạo điều kiện tăng nguy cơ ung thư dạ dày.
- Một số ít người nhạy cảm với natri, khi tiêu thụ nhiều quá có thể đưa đến tích tụ natri trong cơ thể, làm dịch lỏng ứ đọng, gây sưng phù, tăng huyết áp...
Đối với những người có thói quen ăn mặn thì sẽ không tốt cho sức khoẻ, ăn mặn sẽ dể bị suy thận, cao huyết áp, và mắc các chứng bệnh về tim mạch. Tốt nhất là nên có chế độ ăn vừa phải muối mỗi ngày, ăn nhiều rau xanh.
Cảm ơn bạn! :D
Quote
Like
Share

Joined: July 21st, 2011, 10:32 am

August 16th, 2011, 1:57 pm #9

Nhóm cho mình hỏi câu ngoài lề xíu nha. Muối NaCl và KaCl rất cần thiết cho cơ thể đặc biệt là tế bào, nhưng nếu lượng ion Na hoặc Ka trong và ngoài tế bào k đạt trạng thái cân bằng thì rất nguy hiểm (Dư ion Ka có thể kéo dài tình trạng nghỉ ngơi, tức là ngủ vĩnh viễn ấy). bạn có thể cho mình biết tác dụng của 2 chất này đối với tế bào và cơ thể không? và khi trạng thái không cân bằng thì hiện tượng xảy ra như thế nào?
Cảm ơn các bạn nhiều. Chúc các bạn luôn vui và thành công.
Quote
Like
Share

Joined: August 14th, 2011, 1:24 pm

August 17th, 2011, 1:08 pm #10

dhtp6clt-dotuquynh-10311791 wrote:Chào nhóm!
Nhóm cho mình hỏi là các nguyên tố đa lượng kể trên, nguyên tố nào được bổ sung vào thực phẩm và bổ sung ở dạng nào ? Và có quy định nào tại Việt Nam về việc sử dụng các phụ gia đó bổ sung vào thực phẩm hay không ? Cám ơn nhóm nhiều.
Chào bạn!
Tất cả các nguyên tố đa lượng mà nhóm liệt kê ở trên đều là những nguyên tố khoáng đa lượng cần thiết hoặc là có sẵn trong thực phẩm hoặc là được bổ sung vào thực phẩm. Và chúng thường được bổ sung ở các dạng như Canxi thì có: canxi cacbonat; canxi clorua; canxi citrate; canxi glycerophotphat; canxi hydroxyt; canxi oxit; canxi mono – , di – , tri – photphat; canxi pyrophotphat; canxi sunfat, Photpho thì đựợc bổ sung ở dạng :(PO4)3-, Natri , Kali, Clo thì thường được bổ sung vào dạng muối là chủ yếu.......
Hiện tại ở Việt Nam các quy định sử dụng phụ gia là chất khoáng đa lượng bổ sung vào thực phẩm vẫn chưa rõ ràng lắm, đa số các quy định về việc sử dụng phụ gia đều là chung chung. Và trong bài luận nhóm mình có đư ra một số quy định sử dụng phụ gia của Việt Nam và một số tổ chức trên thế giới, bạn có thể tham khảo thêm.
Quote
Like
Share

Confirmation of reply: