Nguyên tố vi lượng

Joined: July 17th, 2011, 1:22 pm

August 7th, 2011, 12:04 pm #1

2.2.1.Sắt ( Fe )
[+] Spoiler
Trong các loại vitamin và khoáng chất, sắt là thành phần không thể thiếu trong cơ thể đặc biệt đối với chị em,những người ăn chay, vận động viên nói chung và các bà bầu, những người thiếu máu mệt mỏi kinh niên nói riêng.
Trong cơ thể hàm lượng sắt có khoảng 4-5g. Sắt có mặt chủ yếu trong hemoglobin (máu), sắc tố myoglobin trong mô cơ và một số enzyme (peroxidase, catalase, hydroxylase và các flavine enzyme). Khi ta hít vào dưỡng khí (oxygen) vô phổi sẽ kết hợp với chất sắt trong hồng cầu đễ mang khí oxygen đó đi nuôi cơ thể và phụ nữ thường có ít chất sắt hơn đàn ông vì hàng tháng do bị kinh nguyệt nên họ mất đi một số chất sắt.
Nhu cầu sắt phụ thuộc vào tuổi tác ,giới tính và nằm trong giới hạn từ 1-2,8mg/ngày.Tuy nhiên do khả năng hấp thu sắt thấp nên chế độ ăn phải cung cấp từ 5-28mg/ngày đễ đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu của con người.
Khi thiếu sắt dễ bị mệt mỏi, biếng ăn, đau đầu, nhợt nhạt da, ảnh hưởng đến suy nghĩ trí nhớ, hệ miễn dịch giảm. Ta có thể bổ sung chất sắt từ chế phẩm thuốc bổ sung chất sắt nhưng phải hỏi ý kiến bác sĩ vì nếu dùng dư sẽ dẫn tới bệnh: tim, gan, thận,tiểu đường, một số bệnh ung thư. Ngoài ra ta có thể bổ sung chất sắt từ thực phẩm.
Có hai loại sắt ẩn chứa trong thực phẩm: Heme iron (tìm thấy trong các sản phẩm từ động vật) và non-heme (tìm thấy trong thực vật). Heme iron dễ hấp thu hơn, trong khi non-heme khó hấp thu. Đó chính là lý do tại sao cơ thể người ăn chay thường thiếu sắt.
Thực phẩm chứa nhiều heme iron:
Thịt màu đỏ (thịt bò, thịt lợn, thịt cừu) rất giàu sắt và dễ dàng được cơ thể hấp thu, thịt càng sẫm màu càng chứa nhiều sắt.
Đối với thịt gia cầm, thịt đùi chứa nhiều chất sắt hơn phần thịt ở xườn.
Cá cũng có chất sắt đặc biệt là các loài cá béo và các động vật thân mềm (sò, trai).
Thực phẩm chứa nhiều non-heme:
- Các loại rau xanh như: rau cải xoong, cải xoắn.
- Các loại ngũ cốc đặc biệt là lúa mạch, yến mạch.
- Đậu hà lan, các loại đậu, đỗ.
- Một số loại hạt như: hạt vừng, hạt hướng dương, hạt bồ đào, hạt hạnh nhân.
- Lòng đỏ trứng.
- Mật đường.
Tuy nhiên khả năng hấp thu chất sắt trong cơ thể con người phụ thuộc vào dạng tồi tại của chúng trong thực phẩm (dưới dạng hợp chất hữu cơ hay muối vô cơ).
Sắt trong thịt được hấp thu dễ nhất (20-30%), sau đó tới sắt trong gan (6,5%) và cá (5,9%), sắt trong rau củ và sữa chỉ được hấp thu khoảng (1-1,5%).
Đối với cơ thể khỏe mạnh, nhu cầu sắt phụ thuộc vào nhu cầu cơ thể: trẻ em, phụ nữ có thai hay đang cho con bú, phụ nữ trước tuổi mãn kinh….nhu cầu sắt cao hơn bình thường. Đễ đáp ứng nhu cầu sắt cho các đối tượng này: ngũ cốc (như bột mì, bánh mì, gạo mì…) có thể được bổ sung sắt với liều lượng 55-130mg/kg.
Muốn cơ thể hấp thu được nhiều chất sắt từ thực phẩm chúng ta cần chú ý một vài điều như sau:
- Vitamin C giúp cơ thể hấp thu sắt rất cao đặc biệt là non-heme trong thực vật. Vitamin C có nhiều trong rau, quả, nên ăn chúng cùng lúc với các thực phẩm chứa chất sắt.
- Chất caffein cũng kìm hãm sự hấp thu chất sắt từ thực phẩm nên không uống trà cà phê, ca cao trong bữa ăn và chỉ uống sau ăn 2 tiếng.
- Hạn chế dùng các sản phẩm từ sữa khi dùng thức ăn giàu sắt bởi vì calci trong sữa ức chế sự hấp thu chất sắt, nên uống sữa cách xa một bữa ăn giàu chất sắt.
- Ngoài ra trứng cũng làm giảm khả năng hấp thu sắt.
Trong công nghệ chế biến thực phẩm, sắt là nguyên tố vi lượng không mong muốn do chúng xúc tác các phản ứng oxy hóa chất béo, làm đục nước quả và rượu vang, làm tăng sự phát triển của vi khuẩn ưa sắt trong nước uống tinh khiết. Làm tăng khả năng oxy hóa lipid và làm giảm chất lượng nướng trong trường hợp bổ sung sắt vào bột mì.
2.2.2.Đồng (copper)
[+] Spoiler
a) Chức năng
Năm 1928, ông Hart thuộc trường ĐH Wisconsin Hoa Kì thấy rằng bệnh thiếu chất sắt chỉ được chữa khỏi nếu cho ăn thêm chất đồng trong những thức ăn chỉ nuôi bằng sữa thay gạo. Cho tới năm 1960 các khoa học gia mới chứng nghiệm được đồng là chất cần thiết cho sự dinh dưỡng không những ảnh hưởng ngay tới sức khỏe hiện tại mà còn ảnh hưởng tới di truyền nữa. Trong cơ thể con người có khoảng từ 80mg đến 99,4 mg đồng được phân phối như sau: Trong bắp thịt 24,7%, trong da 13,3%, trong tủy xương 14,8%, trong xương 19%, trong gan 8-15% và trong não bộ 8%. Trẻ em mới sinh có khoảng 15-17mg đồng.
Đồng tự bản thân nó là chất oxi-hóa. Tuy vậy trong cơ thể nó lại có vai trò của chất chống oxi-hóa bởi vì đồng là thành phần trong enzym chống oh superoxide dismutase enzym này bảo vệ tế bào khỏi bị hư hại do các gốc tự do và sự peroxide.
Đồng là một kháng tố hữu ích vì đồng ở dạng sinh học có tác dụng yểm trợ khả năng của kẽm để trung hòa độc chất sinh ung thư. Thêm vào đó, nhờ sự hiện diện của đồng mà sắt được kí gởi trong tủy xương để tham gia quy trình tạo huyết. Trong phạm vi mô liên kết, đồng đóng vai trò chất keo cho lớp sợi đàn hồi. Nhờ có đồng mà mạch máu không giòn như bánh tráng. Dó có đồng trong cấu trúc mà nước da mặn mà màu bánh ít, mắt có màu nâu hiền hòavà tóc bóng mượt như thoa dầu. Thiếu đồng là một trong những nguyên nhân làm tóc mau bạc. Dưới ảnh hưởng của tia tử ngoại, thành phần đồng dự trữ dưới da một mặt tuy làm tăng sắc tố dưới da, nhưng mặt khác lại giúp lượng đồng tích lũy trong hệ thần kinh được giải tỏa. Người có nước da trắng nếu ra nắng dễ bị tàn nhanthì đừng vội buồn. Đó là dấu hiệu chứng tỏ khoáng tố đồng đang được huy động ra ngoài da cơ thể nhờ vậy mà không ngộ độc vì đồng.
Ngoài ra đồng còn có chức năng ức chế tác chất gây dị ứng viêm nhiễm và qua đó gián tiếp yểm trợ hệ thống miền nhiễm. Đồng có vị trí quyết định trong phản ứng sinh năng cho cơ tim và não bộ. Trong hệ thần kinh trung ương, đồng ảnh hưởng đến quy trình phóng thích các chất dẫn truyền tạo cảm giác lạc quan, yêu đời. Tùy theo hàm lượng trong cơ thể mà đồng có tác dụng bảo vệ cấu trúc thần kinh.
b) Nguồn thực phẩm Thực phẩmmg/100g
Sò 7,6
ốc 7,2
Gan cừu 6,0
Cua 4,8
Men bia 3,3
Quả oliu 1,6
Tôm 0,8
Cá tuyết 0,6
Bánh mì, bột thô 0,25
c) Thiếu đồng trong cơ thể:
Trong cơ thể thiếu chất đồng có thể do không đủ chất đồng trong máu, trung bình khoảng từ 87-153mg/100 phân khối máu cho đàn bà và từ 89-187mg/100 phân khối máu cho đàn ông, hoặc do sinh ra thiếu khả năng biến năng chất đồng. Hiện nay có 3 hiện tượng bệnh lí của sự thiếu chất đồng trong trẻ em như sau:
Thứ nhất là bệnh thiếu máu là bệnh thiếu số lượng hay thiếu kích thước của hồng huyết cầu hay thiếu số lượng huyết đạm trong hồng cầu do trẻ em được nuôi bằng sữa bò.
Thứ hai là bệnh tiêu chảy thiếu dinh dưỡng.
Thứ ba là ảnh hưởng di truyền thấy trong hiện tượng Menky tìm thấy vào năm 1962 do chi thể truyền giống thiếu chất đồng, dđứa trẻ bị chậm lớn, kém thông minh, da, tóc, bị mất sắc tố( bạch tạng), tóc thưa, mềm, mạch máu bị giãn, nhiệt độ cơ thể bị thấp hay bị bất tỉnh...
d) Thừa đồng trong cơ thể:
Nếu uống khoảng 10mg vào ruột sẽ sinh choáng váng xay xẩm mặt mày, các tế bào gan và máu bị tiêu tan dẫn đến bệnh vàng da, ruột bị rách chảy máu. Bệnh Wilson là loại bệnh quá nhiều chất đồng trong gan và trong não bộ đưa đến bệnh viêm gan và các cơ không phối hợp hoạt động được.
e) Nhu cầu dinh dưỡng:
Đồng dùng liều lượng cao có thể gây ngộ độc, nhưng ngộ độc đồng mãn tính thì rất hiếm, nên sử dụng đồng với liều lượng thích hợp. Mỗi ngày cơ thể hấp thụ khoảng từ 1,3-2mg là đủ và an toàn.
2.2.3.Kẽm (zinc)
[+] Spoiler
a) Chức năng
Kẽm là một yếu tố vi lượng quan trọng, nó chịu trách nhiệm trong hoạt động của gen chứa thông tin các tế bào của chúng ta. Thiếu kẽm xảy ra nhiều hơn so với thiếu sắt.
Kẽm có trong tất cả các loài vật sống. Cơ thể người chia trung bình 2-3 g kẽm. Tầm quan trọng của nó cũng như sắt, hơn một nửa kẽm nằm trong vỏ,1/3 nằm trong xương. Đặc biệt một vài mô có hàm lượng kẽm cao: tuyến, tóc, mắt…
Hơn hai trăm thứ hóa sinh được sử dụng có lệ thuộc vào kẽm. Vai trò rõ nhất cả nó là chứa chương trình ren trong axit nuclêic. Kẽm rất cần thiết trong quá trình tổng hợp prôtêin, cũng như trong chuyền hóa axit béo khô nó tạo ra màng tế bào.
Kẽm cần thiết cho cấu tạo thành phần của hoocmon sinh dục nam, và đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp, cấu trúc, bài tiết nhiều hoocmon khác: insulin, hoocmon tăng trưởng.
Kẽm là chất bảo vệ chống oxy hóa. Nó chống lại các tác dụng của một vài chất độc, kim loại nặng như cadimi và các chất ô nhiễm khác.
b) Nguồn thực phẩm:
Kẽm có trong thịt, cá, thức ăn biển giàu kẽm nhất là ngũ cốc, rau khô và các hạt có dầu cũng chứa kẽm nhưng nó khó được hấp thụ từ các thức ăn thực vật. Chất xơ trong bắp hạt, mầm đậu nành ngăn cản khả năng hấp thụ kẽm. Lưu ý, sắt cũng là chất ức chế mạnh khả năng hấp thụ của kẽm, do đó không nên trộn lẫn kẽm và sắt để bổ sung.
Thực phẩm mg/100g
Hàu 7,0
Gan 7,8
Sò 5,3
Thịt đỏ 4,3
Trứng 1,4
c) Thiếu kẽm trong cơ thể:
Dễ nhận thấy nhất là móng dễ gãy hoặc chậm mọc và có những vết trắng, da khô.
Phụ nữ có thai, thiếu kẽm có nguy cơ sinh non tăng gấp 3 lần và trẻ có nguy cơ thiếu cân lúc sinh, tăng ssự biến dạng của hệ thần kinh và kém phát triểntinh thần vận động của trẻ.
Đối với người già, cũng là tác nhân gây lão hóa, về lâu dài góp phần làm giảm độ dày của da, cũng như tan khối cơ và loãng xương.
d) Thừa kẽm trong cơ thể sống:
Trẻ em sinh ra bị ảnh hưởng di truyền cơ thể không thẩm thấu chất kẽm sẽ có hiện tượng da bị nám chung quanh khuỷu tay, đầu gối, mặt, mông, bộ tiêu hóa kém, chậm lớn. Đó là hiện tượng của bệnh Avrodermatitis Enteropathica(A-E).
e) Nhu cầu dinh dưỡng:
Nhu cầu dưỡng sinh cho kẽm tùy theo ảnh hưởng của khu vực sinh sống và tùy vào những thực phẩm có nhiều hay ít kẽm, trung bình khoảng 10-15mg mỗi ngày.
Lượng kẽm phù hợp cho từng lứa tuổi:
Lứa tuổi mg/ngày
Trẻ con bú 6
Trẻ từ 1-9 tuổi 10
Trẻ từ 10-12 tuổi 12
Từ 13-19 tuổi(nam) 15
Từ 13-19 tuổi(nữ) 12
Người lớn nam 15
Người lớn nữ 12
Phụ nữ có thai 15
Phụ nữ cho con bú 19
Người già 12
2.2.4.Mn (mangan)
[+] Spoiler
Mn được thấm vào cơ thể qua ruột vào mật dưới trạng thái Mn hoá trị 2 và vào gan thành ra Mn hoá trị 3 kết phối với chuyển sắt để đi vào các tế bào, sự thẩm thấu vào cơ thể rất ít khoảng 3% số lượng ăn vào. Mn được mật bài tiết vào ruột ra ngoài đường tiểu tiện .
Triệu chứng của cơ thể người thiếu mn là bị thêíu cân, da bị lở , thỉnh thoảng bị ói mửa, buồn nôn, đầu tóc bị dổi màu và chậm mọc.
Đối với súc vật bị thiếu Mn xương bị ngắn và dầy, xương ống bị cong, xương sọ bị méo, không bính thường lớp sụn bị lở lớn đẩy khớp xương bị lợt. Tình trạng này có thể biến đổi được nếu súc vật cho uống nhiều Mn. Tóm lại ảnh hưởng tới bộ xương nảy nở không đều và thần kinh bị bệnh không phối hợp cử động diều hoà. Hàm lượng: cơ thể chứa tổng cộng 10-40 mg Mn. Nhu cầu hàng ngày từ 2-48 mg
Nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho người lớn là 2,5 đến 5 mg và trẻ em từ 6 đến 10 tuổi là 1,25 mg. Thực phẩm có nhiều Mn là ngũ cốc, trái cây, rau, đậu, trà.
2.2.5. Se(Selenium):
[+] Spoiler
a) Chức năng.
Từ selenium xuất phát từ tiếng hy lạp “selene”, có nghĩa la mặt trăng. Cách đặt tên trên có liên quan đến sự phản quang của selenium được nhân lên khoảng 1000 lần khi selenium được đưa từ bóng tối ra ánh sáng mặt trời. Vì vậy, selenium được dùng để sản xuất các dụng cụ cần nhạy cảm với ánh sáng như máy photocopy hay các dụng cụ cảm ứng với ánh sáng mặt trời. Selenium chỉ được chính thức công nhận là nguyên tố cần thiết cho sức khỏe con người vào năm 1990.
Chức năng chủ yếu của chất khoáng vi lượng này là tham gia vào thành phần của men glutathione peroxidase, men này hoạt động cùng với vitamin E nhằm ngăn ngừa và bảo vệ sự tổn thương màng tế bào bởi các gốc tự do. Nồng độ selenium thấp là yếu tố nguy cơ cao của bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh viêm nhiễm và nhiều tình trạng bệnh lý khác có liên quan đến các tổn thương do tăng gốc tự do oxy hóa, gồm cả lão hóa sớm và hình thành đục thủy tinh thể
b)Nguồn thực phẩm
Hàm lượng selenium trong thực phẩm liên quan trực tiếp với hàm lượng selenium trong đất trồng.
c) Dấu hiệu thiếu hụt và triệu chứng.
Thiếu hụt selenium trầm trọng có liên quan đến bệnh keshan, một rối loạn tim nặng nề chủ yếu ở trẻ con và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Bệnh keshan xuất hiện ở một số vùng của trung quốc nơi có nồng độ selenium trong đất trồng rất thấp. Thiếu hụt selenium có thể gây những rối loạn ở tim và bệnh lý của cơ. Tuy nhiên những tình trạng thiếu selenium trầm trọng như vậy rất hiếm gặp. Thông thường hơn là dạng thiếu selenium trong chế độ ăn lâu dài là nguy cơ ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch.
d) Dạng hiện có
Selenium có nhiều dạng sử dụng. Các nghiên cứu cho thấy các muối vô cơ như selenite natri được hấp thu rất kém và không đạt nhưng tác động sinh hóa mạnh như dạng muối hữu cơ, như selenomethionine và men bia giàu selenium. Do vậy chế phẩm bổ sung selenium hiện được ưa chuộng chứa thành phần selenium hữu cơ hoặc men bia giàu selenium.
e) Ứng dụng lâm sàng
Chế phẩm bổ sung selenium được sử dụng chủ yếu trong hỗ trợ chống oxy hóa. Để đánh giá vai trò quan trọng của selenium, chúng ta hãy tìm hiểu mối liên quan giữa selenium và ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch, bệnh tim mạch, tình trạng viêm, quá trình hình thành đục thủy tinh thể, thai kỳ và trẻ sinh non.
Rất nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ tử suất do ung thư tăng khi lượng selenium nhập vào thấp hơn lượng tối ưu. Tác động chống ung thư của selenium hiệu quả hơn ở nam giới, đặc biệt là ung thư phổi và đường tiêu hóa.
Người ta đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu về vai trò chống ung thư của selenium trên súc vật. ủy ban nghiên cứu quốc gia (hoa kỳ) có lưu ý : “việc sử dụng chế độ dinh dưỡng hoặc thức uống bổ sung nhiều selenium giúp bảo vệ cơ thể chống lại các khối u do hàng loạt các chất sinh ung hóa học hiện nay”. Selenium giúp bảo vệ chống ung thư vú, đại tràng, ung thư gan và da.
f) Mức liều
Nên dùng khoảng 50 – 200mcg selenium mỗi ngày cho người trưởng thành. Liều cao (>1000mcg/ngày) có thể gây ngộ độc.Trẻ em nên dùng 3,3mcg/kg cân nặng.
Vấn đề an toàn: Cơ thể chúng ta chỉ cần một lượng nhỏ selenium. Liều khoảng 900mcg/ngày kéo dài có thể gây ngộ độc selenium, bao gồm các dấu hiệu như: trầm cảm, lo lắng bồn chồn, tính khí và cảm xúc không ổn định, buồn nôn, nôn, hơi thở và mồ hôi có mùi tỏi, và một số trường hợp rụng lông tóc và hư móng. Ngộ độc selenium cấp tính do nguồn gốc thực phẩm hiếm khi xảy ra.
Tương tác: Một số dưỡng chất chống oxy hóa khác có tác dụng hiệp đồng với selenium trong việc làm tăng hoạt động glutathione peroxidase. Việc hấp thu selenium bị cản trở bởi các kim loại nặng (chì, thủy ngân, cadmium,…), vitamin C liều cao (ảnh hưởng nhiều lên muối selenite natri hơn là lên các dạng selenium hữu cơ). Hấp thu selenium còn giảm khi nhập vào liều cao các muối khoáng khác, nhất là kẽm. Nhiều loại thuốc, đặc biệt là các thuốc hóa trị ung thư, làm tăng nhu cầu selenium
2.2.6. F (Fluorine):
[+] Spoiler
Cơ thể người chứa 2.6g fluorine,người ta thường thêm vào nước uống 1 lượng 0.5-1.5ppm fluorine ở dạng NaF hoặc (NH4)SiF6, nồng độ 2ppm có thể gây độc.
Vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và sinh sản của tế bào, Fluor không chỉ có công năng thụ động nhằm ngăn ngừa sâu răng. Fluor còn có khả năng phục hồi tái tạo răng đã bị hư. và giúp duy trì độ chắc và cấu trúc xương, Trên cơ sở đó, fluor là khoáng tố cần được lưu ý cho đối tượng bước vào tuổi mãn kinh vì khuynh hướng dễ bị loãng xương do rối loạn kích tố phái tính. Fluor cũng quan trọng cho trẻ con vì cơ thể phải đối đầu thường xuyên với tình trạng hư răng
Như con dao hai lưỡi, lượng fluor quá cao trong cơ thể sẽ trở thành có hại. Răng khi đó lại là đối tượng ưa chuộng của khoáng tố flour. Răng sẽ ngả màu nâu hay trắng nhám và dễ gãy, đặc biệt trên trẻ con. Ở người lớn thì xương mất cấu trúc bền chặt và dẫn đến chứng loãng xương, nguyên nhân thường gặp của tình trạng đau khớp và khuynh hướng dễ gãy xương. Do hậu quả gián tiếp trên tuyến giáp trạng mà trong cơ thể bị nhiễm độc fluor sẽ xảy ra hiện tượng huy động chất vôi theo chiều nghịch chuyển. Chất vôi khi đó không được rải đều trong mô xương như mong muốn, mà lại đóng khối trong khớp xương và trên gân cơ, gây giới hạn vận động và sinh đau nhức
Fluor có nhiều trong hải sản, thịt và trà
Fluor được hấp thụ dễ dàng qua đường ruột. Phân nửa lượng fluor sau đó sẽ được vận chuyển đến xương và răng. Khả năng hấp thu fluor tùy thuộc và tỷ lệ thuận với thành phần chất vôi trong bữa ăn.
2.2.7.IỐT
[+] Spoiler
Iốt là nguyên tố cơ bản để tổng hợp hoocmon tuyến giáp. Tuyến giáp giữ vai trò quan trọng trong cơ thể duy trì thân nhiệt chuyển hóa chất dinh dưỡng phát triển xương và phát triển trí não. Việc thiếu Iốt sẽ dẵn đến các bệnh lí cho cơ thể như tuyến giáp to bứu cổ đối với phụnư việc thiếu Iốt sẽ dẫn đến thai chết lưu, xảy thai, đẻ non. Những trẻ em được sinh ra do người mẹ ăn thiếu Iốt trong quá trình mang thai sẽ dẫn đến trí não kém phát triển, điếc, liệt, đần độn. Còn ở người lớn việc thiếu Iốt sẽ dẫn đến mệt mỏi giảm trí nhớ. Ở Việt Nam tình trạng thiếu Iốt trước đây thường gặp ở những người dân sống ở vùng cao đặc biệt là người dân tộc do thiếu Iốt .
Những hiện tượng này có thể tránh khỏi nhờ được bổ xung Iốt vào bữa ăn hàng ngày tư những lọai thực phẩm chứa nhiều Iốt như các lọai hải sản tôm, cua, cà, mực và nguồn bổ sung Iốt chính là muối ăn hằng ngày.
Lượng Iốt được khuyến cáo cần thịết cho cơ thể tư 150-300microgam/ngày.
Ngoài những nguồn bổ sung Iốt trên ta còn có các lọai thuốc bổ sung Iốt, kẹo ngặm Iốt .
Quote
Like
Share

Joined: July 17th, 2011, 2:09 pm

August 7th, 2011, 1:28 pm #2

chào nhóm!
Nhóm có đề cặp là "Khả năng hấp thu chất sắt trong cơ thể con người phụ thuộc vào dạng tồn tại của chúng trong thực phẩm (dưới dạng hợp chất hữu cơ hay muối vô cơ)" vậy cho mình hỏi trong 2 dạng đó thì cơ thể hấp thu dạng nào là tối ưu hơn?
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 3:37 am

August 8th, 2011, 4:56 am #3

wrote:chào nhóm!
Nhóm có đề cặp là "Khả năng hấp thu chất sắt trong cơ thể con người phụ thuộc vào dạng tồn tại của chúng trong thực phẩm (dưới dạng hợp chất hữu cơ hay muối vô cơ)" vậy cho mình hỏi trong 2 dạng đó thì cơ thể hấp thu dạng nào là tối ưu hơn?
Cám ơn câu hỏi của bạn, nhóm mình xin được trả lời như sau :
Thực phẩm là nguồn bổ sung sắt chính yếu. Sắt trong thực phẩm tồn tại dưới 2 dạng: heme iron ( có chủ yếu trong động vật như thịt đỏ, thịt gà ...) là thành phần chính của huyết sắc tố để cấu tạo nên hồng cầu và non-heme (có trong thực vật). Cơ thể chúng ta hấp thu sắt ở dạng heme (20%) tốt hơn dạng non-heme (3%). Đó chính là lý do tại sao cơ thể những người ăn chay thường thiếu sắt và hệ quả là hay bị mắc các chứng thiếu máu. Hiện tượng thiếu máu do thiếu hụt chất sắt là nguyên nhân chính gây ra sự mệt mỏi kinh niên. Tuy nhiên, heme iron, chất béo no và một số chất hữu cơ lại chính là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh ung thư (ung thư đại tràng, ung thư phổi, ung thư gan). Do đó, theo các chuyên gia dinh dưỡng thế giới, nên hạn chế ăn thịt đỏ, chỉ nên ăn khoảng 500g/tuần.
Sự hấp thu của sắt ở dạng non-heme có thể được tăng lên khi được ăn kèm những thức ăn chứa sắt ở dạng heme trong cùng một bữa ăn.
Ngoài ra, những chất làm tăng hấp thu sắt cũng có thể giúp tăng hấp thu sắt ở dạng non-heme. Cần chú ý tránh ăn chung với những thức ăn có tính ức chế sự hấp thu sắt.
Nên ăn nhiều chất làm tăng hấp thu sắt như thịt cá, gia cầm, các loại trái cây: vitamin C, cam, dưa đỏ, dâu, nho, các loại rau: bông cải xanh, cà chua, khoai tây, tiêu xanh và tiêu đỏ... Chất làm giảm hấp thu sắt là rượu vang đỏ, cà phê, trà, các loại củ dền, củ cải, sản phẩm từ đậu nành.
Quote
Like
Share

Joined: July 17th, 2011, 2:09 pm

August 8th, 2011, 5:37 am #4

Cám ơn câu trả lời của nhóm. :))
Nhưng mình còn thắc mắc là : "Cơ thể chúng ta hấp thu sắt ở dạng heme (20%) tốt hơn dạng non-heme (3%)." vậy giữa "non-heme" và "heme iron" đâu là hợp chất hữu cơ, đâu là muối vô cơ như nhóm đã đề cặp?
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 3:37 am

August 8th, 2011, 7:18 am #5

wrote:Cám ơn câu trả lời của nhóm. :))
Nhưng mình còn thắc mắc là : "Cơ thể chúng ta hấp thu sắt ở dạng heme (20%) tốt hơn dạng non-heme (3%)." vậy giữa "non-heme" và "heme iron" đâu là hợp chất hữu cơ, đâu là muối vô cơ như nhóm đã đề cặp?
Chất sắt hữu cơ (chất sắt heme) trong thực phẩm tồn tại trong cơ thể chủ yếu ở dạng phức hợp liên kết với protein tạo những hợp chất heme (hemoglobin và myoglobin), enzyme chứa heme (mitochondrial và microsomal cytochromes, catalase, peroxidase…) và chất sắt vô cơ - những hợp chất non-heme (transferring, ferritin, và flavoprotein chứa sắt như ferredoxin, dehydrogenase).
Quote
Like
Share

Joined: August 4th, 2011, 4:55 am

August 10th, 2011, 2:06 pm #6

Chào nhóm!
Phần Flo của nhóm bạn chữ bị chạy lung tung khó xem quá! :m004: :m004:
Cho mình hỏi nhóm là nếu như dư lượng iot thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?
Quote
Like
Share

Joined: July 22nd, 2011, 4:00 am

August 11th, 2011, 1:00 am #7

chào nhóm!
những người bị bệnh gan có phải là do cơ thể họ đã được cung cấp 1 lượng dư đồng hay không?
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 3:37 am

August 11th, 2011, 3:03 am #8

wrote:Chào nhóm!
Phần Flo của nhóm bạn chữ bị chạy lung tung khó xem quá!
Cho mình hỏi nhóm là nếu như dư lượng iot thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?
Cám ơn câu hỏi của bạn, nhóm mình sẽ trả lời như sau :
Ở các vùng núi cao như Tây nguyên, các vùng núi phía Bắc, do trong khẩu phần ăn hằng ngày lượng iôt rất thấp nên có tỉ lệ bệnh bướu cổ khá cao. Việc sử dụng muối iôt đồng loạt trong dân chúng có tác dụng tốt trong việc phòng bệnh bướu cổ và đần độn ở trẻ em cho phần lớn cư dân ở vùng này.
Tuy nhiên cũng theo các chuyên gia y học, nếu cung cấp quá nhiều iôt trong khẩu phần ăn hằng ngày một thời gian dài cũng đưa đến tình trạng gia tăng bướu cổ trong dân chúng. Chính vì vậy ở các thành phố lớn, các vùng ven biển... nơi mà trong bữa ăn hằng ngày của người dân đã có hàm lượng iôt đủ cho hoạt động sinh tổng hợp hormon của tuyến giáp thì không cần cho thêm iôt vào muối ăn vì lợi bất cập hại. Kinh nghiệm này đã được chứng minh từ các dân chài của Nhật Bản.
Theo các công trình nghiên cứu của một số chuyên gia trên thế giới, có một số loại thức ăn tồn tại các tác nhân gây bệnh bướu cổ như khoai mì, hạt kê, các loại rau họ cải như bắp cải, sữa đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành như đậu phụ... Trong khi đó, các loại rong tảo biển do chứa quá nhiều iôt gây nên tình trạng quá tải iôt và cũng làm bệnh nhân bị bướu cổ. Chính vì vậy ở những bệnh nhân bị bệnh bướu cổ, họ thường được khuyên hạn chế sử dụng các loại thực phẩm này
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 3:37 am

August 11th, 2011, 4:54 am #9

wrote:chào nhóm!
những người bị bệnh gan có phải là do cơ thể họ đã được cung cấp 1 lượng dư đồng hay không?
Đồng là một nhân tố vi lượng, có trong rất nhiều loại thực phẩm. Cơ thể con người chỉ cần một lượng đồng rất nhỏ để duy trì sức khỏe. Ước tính lượng đồng tổng số trong cơ thể là 50–100 mg. Nếu bạn là người thừa hưởng một lỗi di truyền liên quan đến các gen gây bệnh trong bệnh Wilson, cơ thể bạn sẽ không thể đào thải đồng. Bình thường, cơ thể loại bỏ lượng đồng dư thừa ra ngoài. Tuy nhiên, với người mắc bệnh Wilson không thể tự đào thải lượng đồng dư thừa, do đó, nó tích tụ lại trong cơ thể, chủ yếu ở gan, não, mắt và thận. Bệnh Wilson là bệnh di truyền do sự tích lũy đồng trong cơ thể, chủ yếu là ở gan và não. 40 – 50% trường hợp mắc bệnh Wilson bị rối loạn chức năng gan. Các triệu chứng liên quan đến gan thường xuất hiện đầu tiên. Sự tích lũy đồng gây độc cho gan và do đó thường gây viêm gan, dẫn đến vàng da, đau bụng và buồn nôn. Nếu không được điều trị, sự tổn thương tế bào gan sẽ gây ra xơ gan. Thậm chí, trong trường hợp xơ gan nặng.
Quote
Like
Share

Joined: August 7th, 2011, 10:10 am

August 11th, 2011, 1:11 pm #10

Chào nhóm:chất khoáng seleninum.Chức năng chủ yếu của chất khoáng vi lượng này là tham gia vào thành phần của men glutathione peroxidase, men này hoạt động cùng với vitamin E .bạn cho mình biết rõ thêm về loại men này.cơ chế hoạt động và khả năng xúc tác của men với vitamin e.
Quote
Like
Share

Confirmation of reply: