Chương II – Phương pháp phân tích

Joined: August 6th, 2011, 2:38 pm

August 7th, 2011, 7:57 am #1

2.1. Giới thiệu
[+] Spoiler
Phân tích chất màu có thể được thực hiện thông qua một trong hai phương pháp: định lượng hóa học thành phần các chất màu hoặc đánh giá màu sắc sau khi tiến hành hoặc với phương tiện hoặc với những quan sát viên.
Tuy nhiên, động lực tiếp cận hai phương pháp này khác nhau hoàn toàn. Trước đây, người ta mong muốn giám sát chặt chẽ hàm lượng các chất màu thêm vào (đặc biệt là các chất màu đã được chứng nhận) để đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của người tiêu dùng.
Mặc dù tất cả các chất màu nhân tạo được đánh giá độc tính toàn diện (và nhiều độc tính hiển thị tối thiểu), nồng độ chất màu nhất định (ví dụ, FD & C Red Số 40 và FD & C Vàng số 5) cao có thể gây ra phản ứng bất lợi ở một số người (Davidson, 1997). Những rủi ro như vậy đòi hỏi nồng độ các chất phụ gia, và các tạp chất của nó phải được giám sát chặt chẽ (xem thêm mục VIII). Tuy nhiên, việc đánh giá màu sắc có liên quan tới tác động của nhận thức trong việc sử dụng chất màu, do đó tạo ra sự phức tạp tiềm ẩn đòi hỏi sự phán đoán của con người.
2.1.1. Phương pháp phân tích hóa học
[+] Spoiler
Sự phát triển của kỹ thuật tinh vi song song với sự mở rộng trang thiết bị phân tích mới, các màu riêng biệt được phân tích theo tiêu chuẩn kỹ thuật phân tích hữu cơ. (Yeransian et al, 1985).
Trong khi phương pháp chuẩn độ và phương pháp phân tích định lượng cho phép xác định hàm lượng màu tinh khiết của chất màu phụ gia (Bell,1990), phương pháp spectrophotometric (quang phổ) đã được liệt kê trong Những phương pháp phân tích của Tổ chức AOAC từ năm 1960. Nhanh chóng, dễ dàng và hiệu quả của những phương pháp spectrophotometric làm chúng có giá trị đặc biệt, cũng như đòi hỏi một lượng mẫu nhỏ (Marmion, 1979).
Tuy nhiên, phương pháp quang phổ thường được chứng minh không đầy đủ trong phân tích các mẫu thực tế do sự chồng chéo quang phổ hấp thụ cực đại (Capita'n-Vallvey etal, 1997). Những khó khăn này đã được khắc phục thông qua việc sử dụng các phương pháp sắc ký đặc biệt (Puttemans et al, 1981; Maslowska, 1985; Patel et al, 1986; Karovicova et al, 1991;. Oka et al, 1994), phép phân tích điện (electroanalytical) (Fogg et al, 1986; Ni et al, 1996), hoặc hấp thụ (Capita'n et al, 1996) và thông qua việc sử dụng kỹ thuật hiệu chuẩn đa biến (ví dụ như, phân tích hồi quy một phần tối thiểu) (Ni et al, 1996; Capita'n-Vallvey et al, 1997). Sắc ký lỏng hiệu suất cao (HPLC) nói riêng đã nhận được nhiều sự chú ý trong việc phân tách chất màu (Puttemans et al, 1981); Gennaro, Abrigo và Cipolla đã xem xét việc sử dụng của HPLC trong việc nhận dạng và xác định màu và các tạp chất của nó (Gennaro et al, 1994).
Tuy nhiên, quá trình tách chất màu từ mẫu đối với các nhà hóa học khó hiểu hơn vấn đề phân tích thành phần riêng biệt của chất màu, đây là trường hợp thường gặp (Greenway et al, 1992). Kỹ thuật phân tách matrix thường phụ thuộc vào một trong ba phương pháp chung: lọc, dung môi – tách chiết dung môi, hoặc sự hấp thụ của chất nền (Marmion, 1979); tuy nhiên, sự có mặt của các tác nhân có ái lực liên kết cao như protein đòi hỏi phải loại bỏ các ảnh hưởng của matrix (ví dụ, thông qua kết tủa) (Puttemans et al, 1984). Marmion (1979) đã lưu ý, không có một phương pháp chung nào áp dụng cho tất cả các mẫu matrix, do đó nhà hóa học cần phải có kiến thức toàn diện để tối ưu hóa điều kiện của một mẫu đặc thù nào đó.
2.1.2. Phép đo màu bằng thị giác
[+] Spoiler
Theo lưu ý của Little và Mackinney (1969), “đo lường sự thay đổi thuộc tính ánh sáng của một đối tượng không đủ tiêu chuẩn như một phép đo màu sắc” . Màu sắc là một hiện tượng nhận thức độc quyền của con người, mọi phương pháp đánh giá màu sắc phụ thuộc vào một số thời điểm khi có sự phản ứng của con người.
Đánh giá màu sắc nhờ vào thị giác có đặc thù dựa vào việc so sánh các mẫu màu tiêu chuẩn tham chiếu hoặc một tập bản đồ màu sắc (Billmeyer, 1988). May mắn rằng, sự cảm nhận về màu sắc của con người tương đối đồng đều hơn so với các cảm nhận về vị hoặc mùi thơm (Clydesdale, 1977). Tuy nhiên, những thành kiến vẫn có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá sở thích khác nhau ở mỗi người hoặc thông qua sự thiếu kiểm soát về các điều kiện khi quan sát (Mabon, 1993). Một vấn đề đặc biệt khó giải quyết là so sánh mẫu với một hệ thống theo thứ tự màu sắc, các giả thiết cho rằng một nguồn sáng tiêu chuẩn sẽ được sử dụng để quan sát (Billmeyer, 1988). Billmeyer (1988) lưu ý rằng, khi so sánh màu sắc đặc trưng điều kiện kiểm soát khó khăn có thể ngăn cản việc đánh giá chính xác màu sắc. Billmeyer (1988) cũng lưu ý rằng, khi so sánh màu sắc đại diện cho một nhiệm vụ đơn giản, khó khăn trong việc kiểm soát có thể ngăn cản việc đánh giá màu sắc chính xác.
2.1.3. Công cụ đo màu
[+] Spoiler
Phản ứng của con người mang tính chủ quan, cùng với nhận thức về màu sắc của con người mang tính tương đối bất biến, làm nên công cụ đo lường về màu sắc rất thỏa đáng và khả thi. Những đánh giá này phụ thuộc một cách chặt chẽ vào khoảng không gian màu sắc, đặc biệt là CIE LAB và CIE-LUV.
Tuy nhiên, như Billmeyer (1988) cảnh báo, những khoảng màu sắc thu được từ cảm nhận phù hợp với mục đích và không chỉ rõ màu sắc tuyệt đối. Một cuộc thảo luận về công cụ đo màu cho người đọc có thể tham khảo bởi Mackinney và Little (1962), Francis và Clydesdale (1975), hoặc Hutchings (1994).
Quote
Like
Share

Joined: August 6th, 2011, 2:38 pm

August 7th, 2011, 8:09 am #2

2.2. Xác định phẩm màu dùng trong thực phẩm
[+] Spoiler
(Theo Quyết định số: 883/2001/QĐ-BYT ngày 22 tháng 3 năm 2001 - Bộ trưởng Bộ Y tế)
2.2.1. Nguyên tắc
[+] Spoiler
Trong môi trường acid, phẩm mầu hữu cơ tổng hợp có tính acid được hấp phụ vào sợi len lông cừu nguyên chất màu trắng, rồi được chiết từ sợi len bằng dung dịch amoniăc, sau đó được định tính bằng phương pháp sắc ký trên giấy và định lượng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS.
2.2.2. Phạm vi ứng dụng
[+] Spoiler
Đối với tất cả các loại thực phẩm
2.2.3. Dụng cụ, hóa chất, thuốc thử
[+] Spoiler
2.2.3.1. Dụng cụ, thiết bị
- Nồi cách thủy
- Bát sứ 200 ml
- Cốc có mỏ 250 ml
- Cối chày thuỷ tinh
- Máy sấy tóc
- Bình triển khai sắc ký có Φ =18 cm, cao 25 cm
- Máy đo quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS
- Thước kẻ
- Bút chì
- Kim, chỉ trắng
- ống đong 50 ml ,100 ml
- Pipet bầu 5ml, 10 ml, 20ml
- Cân phân tích
- Bình lắng gạn 250ml
- Giá để bình gạn
- Ống nghiệm Φ =18 mm
- Micropipet 50 microlit
- Phễu thuỷ tinh Φ =7cm
- Đũa thuỷ tinh
- Ống mao dẫn
- Bình định mức 50ml, 100ml, 200ml
2.2.3.2. Hoá chất, thuốc thử (loại tinh khiết phân tích)
- Celite
- Nước cất 2 lần
- Giấy chỉ thị màu vạn năng
- Aceton
- Ether thường
- n-hexan
- Acid acetic 10% (đong 10 ml acid acetic đậm đặc thêm nước cất vừa đủ 100ml)
- Dung dịch amoniăc ( NH3) 25 %
- Dung dịch amoniăc ( NH3) 1,25% (Đong 50 ml dung dịch amoniăc 25 %, thêm nước cất 2 lần vừa đủ 1000 ml )
- Giấy lọc thường
- Len lông cừu nguyên chất màu trắng
- Giấy Whatman 1, FN4
- Hỗn hợp nước:Cồn 90o (1:1) (Đong 50 ml cồn 90o thêm nước cất vừa đủ 100 ml)
- Amoni acetat 0,02 M(cân 1,5416g amoni acetat thêm nước cất vừa đủ 1000ml)
- Natri citrat
- Propanol
- Ethyl acetat
- Butanol
- Acid acetic đậm đặc
- Piridin
- Cồn 96o
- Quinolin
Phẩm màu trong danh mục cho phép có nồng độ 1g/lit trong amoni acetat 0,02M (Cân chính xác 100mg phẩm chuẩn thêm amoni acetat 0,02M vừa đủ 100ml)
- Tartrazine (102)
- Sunset Yellow (110)
- Carmoisin (122)
- Amaranth (123)
- Ponceau 4R (124)
- Erythrosine (127)
- Indigocarmine (132)
- Brilliant blue FCF (133)
Hệ dung môi khai triển
* Natri citrat (2g) nước (80 ml) amoniăc 25% (20 ml)
* Propanol : ethyl acetate : nước ( 6:1:3 )
* Butanol : nước : Acid acetic ( 20:12:10 )
* Butanol : nước : pyridin : cồn 960 (4:5:2:2 )
* Butanol : nước : cồn 960 : quinolin (4:5:3:2)
Quote
Like
Share

Joined: August 6th, 2011, 2:38 pm

August 7th, 2011, 8:32 am #3

2.2.4. Phương pháp tiến hành
2.2.4.1. Chuẩn bị mẫu
[+] Spoiler
 Đối với các sản phẩm dưới dạng lỏng như rượu, nước giải khát....
Lấy chính xác 50ml dung dịch mẫu thử cho vào bát sứ dung tích 200ml.Đặt trên nồi cách thuỷ sôi 100oC để đuổi cồn hoặc khí CO2 có trong dịch thử, sau đó acid hoá bằng CH3COOH 10% đến pH=5 (kiểm tra bằng giấy chỉ thị màu vạn năng).
Cho một sợi len lông cừu nguyên chất màu trắng dài khoảng 50cm vào mẫu thử, tiếp tục đun trên nồi cách thuỷ sôi tới khi sợi len đã hấp phụ hết phẩm màu từ dịch thử (dung dịch trong bát không còn màu nữa, nếu dung dịch còn màu thì cho thêm len vào để nhuộm tiếp). Vớt sợi len ra rồi rửa sạch dưới vòi nước và tráng lại bằng nước cất, vắt khô sợi len.
Cho sợi len đã hấp phụ màu vào bát sứ, thêm 10ml dung dịch amoniăc 1,25% để chiết màu từ sợi len ra. Khi màu đã thôi ra dung dịch amoniac, chắt dung dịch màu này ra một bát khác. Làm như vậy 3 lần đến khi sợi len hết màu. Lúc này phẩm màu đã được thôi hết ra dung dịch amoniăc.
Tập trung tất cả dịch chiết vào một bát sứ, làm bay hơi trên nồi cách thuỷ đến vừa cạn, cặn này dùng để định tính bằng sắc ký trên giấy. Sau đó định lượng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS .
Ghi chú: Khi cho dung dịch amoniăc 1,25% vào, nếu sợi len chuyển thành màu xanh lục xỉn thì sản phẩm đã dùng màu tự nhiên để chế biến.
 Đối với các sản phẩm nhuộm màu dưới dạng đường bột như kẹo...
Cân chính xác khoảng 20g kẹo cùng màu cho vào cốc có mỏ dung tích 250ml, thêm 50ml nước cất, ngâm cho thôi hết màu ở kẹo ra. Gạn lấy dung dịch màu đem acid hoá bằng dung dịch CH3COOH 10% đến pH=5. Tiếp tục tiến hành bước nhuộm len và chiết màu từ len ra bằng dung dịch amoniăc 1,25% như trường hợp 4.11
 Đối với các sản phẩm nhuộm màu dưới dạng chất béo như mỡ, bơ, kem bánh ga tô...
Cân chính xác khoảng 20g mẫu cùng màu cho vào cốc có mỏ dung tích 250ml, thêm 50ml nước cất, đặt trên nồi cách thuỷ sôi cho tan hết bơ, mỡ...Tiếp tục đun thêm 15 phút nữa cho mầu trong mẫu tan hoàn toàn trong nước rồi làm lạnh trong tủ lạnh và vớt bỏ lớp chất béo đã đông lại. Phần dung dịch có màu đem acid hoá bằng dung dịch CH3COOH 10% đến pH=5.Tiếp tục tiến hành bước nhuộm len và chiết màu từ len ra bằng dung dịch amoniăc 1,25% như trường hợp 4.11.
 Đối với các sản phẩm như bánh qui, thịt, lạp xường, sữa chua...
Cân chính xác khoảng 20g mẫu thử cho vào cối sứ dung tích 250ml, thêm 10g celite. Nghiền kỹ, thêm 10ml nước cất, tiếp tục nghiền thành bột nhão. Cho thêm 30 ml aceton, nghiền tiếp cho màu trong chất thử thôi ra. Lọc dịch chiết vào bình gạn. Chiết bã còn lại 2 lần nữa với aceton, mỗi lần 30ml. Tập trung tất cả dịch chiết vào bình lắng gạn . Thêm vào bình gạn 30ml nước cất, lắc đều rồi lại thêm 30ml n- hexan để loại bỏ chất béo có trong dịch chiết. Lắc kỹ nhẹ rồi để lắng cho tách thành 2 lớp.
 Lớp trên là n- hexan có chứa chất béo
 Lớp dưới gồm phẩm màu tan trong nước và aceton.
Rút lấy phần dưới ra một bát sứ dung tích 200ml . Để bay hơi dịch chiết trên nồi cách thuỷ sôi cho tới khi hết hơi dung môi rồi acid hoá bằng dung dịch CH3COOH 10% đến pH=5. Tiếp tục hấp phụ màu vào len và chiết màu từ len ra bằng dung dịch amoniăc 1,25% như trường hợp 4.11
2.2.4.2. Phát hiện phẩm mầu hữu cơ tổng hợp có tính kiềm không được phép dùng trong chế biến thực phẩm
[+] Spoiler
Vì không được phép dùng trong thực phẩm bất kỳ một phẩm màu kiềm nào, cho nên trước hết nên kiểm tra sự có mặt của nhóm này.
Tiến hành: Cho 5ml dung dịch thử vào ống nghiệm, thêm 5 giọt amoniăc 25% và 5ml ether thường. Lắc kỹ, rót lớp ether sang ống nghiệm khác, bỏ phần nước. Dù lớp ether có mầu hay không tiến hành như sau:
 Rửa lớp ether bằng cách lắc với nước. Lấy lớp ether, bỏ phần nước, lặp lại nhiều lần.
 Cho thêm 5ml dung dịch acid acetic 10% và lắc.
Đánh giá: dung dịch Acid acetic bên dưới có mầu là phẩm kiềm không được phép sử dụng.
2.2.4.3. Định tính phẩm mầu hữu cơ tổng hợp tan trong nước bằng kỹ thuật sắc ký trên giấy
[+] Spoiler
Nguyên tắc : Dựa vào sự hấp thụ, độ hoà tan và mức độ di động của các phẩm màu khác nhau trong dung môi trên giấy sắc ký mà tách ra được từng sắc tố riêng biệt.
 Phương pháp tiến hành:
• Chuẩn bị giấy sắc ký:
Chuẩn bị giấy sắc ký Whatman 1 hoặc FN4 có kích thước 20 x 30cm. Dùng bút chì đen kẻ một đường thẳng song song và cách cạnh đáy 2,5cm đồng thời chia thành những đoạn cách nhau 2cm và cách mép giấy 3 cm. Đánh dấu tên mẫu bằng bút chì đen.
• Chuẩn bị bình sắc ký:
Bình có chiều cao 25 cm, đường kính 18 cm, đáy bằng. Đổ 1 trong 5 hệ dung môi khai triển vào bình, lớp dung môi có chiều dầy là 1,5 cm, đậy nắp bình.
Để bão hoà trong 30 phút.
• Tiến hành chấm sắc ký:
Hoà cặn mẫu thử đã chiết bằng 0,5 ml dung dịch cồn : nước (1:1)
Trước khi chấm dùng máy sấy, sấy nhẹ giấy sắc ký. Dùng micropipet chấm 10 - 20 microlit mẫu phẩm màu chuẩn trong danh mục cho phép, rồi đến mẫu phân tích. Vết chấm phải gọn, có đường kính khoảng 3mm. Sau mỗi lần chấm, sấy nhẹ để cho vết chấm khỏi loang rộng. Sau đó dùng kim, chỉ trắng khâu tờ giấy lại thành hình trụ, mép giấy cách nhau khoảng 0,5 cm.
• Triển khai sắc ký:
Đặt cuộn giấy sắc ký đã chấm ở trên vào bình sắc ký theo chiều thẳng đứng (tránh chạm vào thành bình) đậy nắp bình, để yên cho dung môi thấm trên giấy. Khi tuyến dung môi chạy đến cách mép trên giấy sắc ký khoảng 2,5cm (khoảng 1 - 2 giờ tuỳ theo hệ dung môi). Lấy ra để bay hết hơi dung môi trong tủ hốt tới khô.
 Đánh giá kết quả:
So sánh màu sắc và vị trí của vết các phẩm màu thử với vết của các phẩm chuẩn trong danh mục cho phép. Nếu một phẩm mẫu thử có màu sắc và vị trí của vết ngang với vết của một phẩm chuẩn nào trên sắc ký đồ( tức Rf của mẫu thử = Rf của mẫu chuẩn) thì có thể kết luận la phẩm được phép sử dụng.
2.2.4.4. Định lượng phẩm màu hữu cơ tổng hợp tan trong nước bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS
[+] Spoiler
Bước 1: Làm giầu mẫu bằng cách hoà cặn đã chiết được bằng 0,5ml dung dịch cồn: nước (1:1). Dùng micropipet chấm toàn bộ thể tích thành nhiều chấm trên tờ giấy sắc ký đã chuẩn bị, rồi tiến hành triển khai sắc ký. Sau khi chạy sắc ký các vết phẩm mầu đã tách ra, dùng kéo cắt các vết màu trên giấy để riêng từng loại, rồi chiết màu nhiều lần bằng dung dịch amoni acetat 0,02 M cho đến vừa đủ 10ml, dung dịch này đem định lượng trên máy quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS ở những vùng có bước sóng thích hợp cho từng loại phẩm màu.
Chuẩn bị mẫu trắng là dung dịch amoni acetat 0,02M.
Bước 2: Xây dựng đường chuẩn với những nồng độ biết trước từ dung dịch chuẩn mẹ. Vẽ đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc mật độ quang vào nồng độ phẩm chuẩn cho trước. Dựa vào đồ thị đó sẽ tính được nồng độ của chất cần xác định.
Pha thang chuẩn cho mỗi loại phẩm màu có các nồng độ như sau: 0,001. 0,003. 0,006. 0,009. 0,012mg/ml. Đem đo trên máy quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS với cuvet có chiều dầy 1cm và vẽ đường chuẩn.


Tính kết quả: Nồng độ phẩm mầu trong 100 gam thực phẩm
Công thức:

Trong đó:
C : Nồng độ chất màu trong 100g thực phẩm (mg)
Cx : Nồng độ chất màu tìm được từ đồ thị chuẩn
V: : Thể tích pha loãng (ml)
a: Lượng mẫu cân dùng phân tích gam hoặc ml
Ghi chú:
• Giới hạn phát hiện của phương pháp là 0,001mg/ml.
• Độ thu hồi của phương pháp là 90%.
• Sai số của phương pháp 10%.




Quote
Like
Share

Joined: August 6th, 2011, 2:38 pm

August 7th, 2011, 8:44 am #4

2.3. Phân tích phẩm màu Tartrazine và Erthyrosine
2.3.1. Phân tích phẩm màu Tartrazine
[+] Spoiler
 Định tính:
Chuẩn bị:
Pha loãng 1 ml dung dịch S thành 100 ml bằng dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (TT). Phổ tử ngoại của dung dịch thu được trong khoảng 230 đến 550 nm có hai hấp thụ cực đại ở 256 ± 5 nm và 430 ± 3 nm.
Pha loãng 1 ml dung dịch S thành 100 ml bằng dung dịch natri hydroxyd 0,1 N (TT). Phổ tử ngoại của dung dịch thu được trong khoảng 230 đến 550 nm có hai hấp thụ cực đại ở 260 ± 5 nm và 396 ± 3 nm.
Trong phần Chất màu liên quan, vết chính trong sắc ký đồ thu được của dung dịch thử (2) phải phù hợp với vết chính trong sắc ký đồ thu được của dung dịch đối chiếu (1) về vị trí, màu sắc và kích thước.
Độ trong của dung dịch:
Dung dịch S: Hòa tan 50 mg chế phẩm trong nước và pha loãng thành 50 ml bằng cùng dung môi. Dung dịch S phải trong.
Chất màu liên quan: xác định bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: Silica gel G.
Dung môi khai triển: Amoniac đậm đặc – nước – ethanol – n-butanol (10 : 25 : 25 : 50).
Dung môi hòa tan: Hỗn hợp nước – methanol (1 : 1).
Dung dịch thử (1): Hòa tan 40 mg chế phẩm trong dung môi hòa tan và pha loãng thành 10 ml với cùng dung môi.
Dung dịch thử (2): Pha loãng 2 ml dung dịch thử (1) thành 10 bằng dung môi hòa tan.
Dung dịch đối chiếu (1): Hòa tan 40 mg tartrazin chuẩn (ĐC) trong dung môi hòa tan và pha loãng thành 50 ml với cùng dung môi.
Dung dịch đối chiếu (2): Pha loãng 1 ml dung dịch đối chiếu (1) thành 20 ml bằng dung môi hòa tan.
Cách tiến hành:
Mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc ký . Chấm riêng biệt lên bản mỏng 5 đến khi dung môi đi được 15 cm. Lấy bản mỏng ra và để khô ngoài không khí. Quan sát sắc ký đồ dưới ánh sáng ban ngày.
Trên sắc ký đồ thu được của dung dịch thử (1), ngoài vết chính ra, không được có vết nào đậm màu hơn vết chính trên sắc ký đồ thu được của dung dịch đối chiếu (2).
Chất chiết được bằng ether: không được quá 0,5%.
Cân chính xác 2,0 g chế phẩm (đã sấy trong chân không ở nhiệt độ 60oC tới khối lượng không đổi) vào bình định mức nâu 200 ml, thêm ether khan (TT) vừa đủ đến vạch. Lắc cơ học trong 30 phút, lọc. Lấy 100,0 ml dịch lọc, cho bay hơi đến khô trong chân không ở nhiệt độ 20oC. Làm khô cắn trong bình hút ẩm tới khối lượng không đổi. Khối lượng cắn thu được không được quá 5 mg.
Chất không tan trong nước: không được quá 0,2%.
Hòa tan 2,0 g chế phẩm trong 200 ml nước bằng cách đun nóng tới khoảng 90oC. Để nguội, lọc qua phễu thủy tinh xốp số 4 đã được sấy khô ở 100 -105oC tới khối lượng không đổi. Rửa cắn thu được với nước cho đến khi thu được dịch lọc không mầu. Sấy cắn ở 100 – 105oC tới khối lượng không đổi. Khối lượng cắn thu được không được quá 4 mg.
Amin thơm bậc nhất: không được quá 40 phần triệu.
Hòa tan cắn thu được ở phần Chất chiết được bằng ether trong 10 ml toluen (TT). Lấy 2,5 ml dung dịch thu được, thêm 6 ml nước và 4 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (TT). Lắc mạnh, để yên cho tách lớp, loại bỏ lớp hữu cơ. Thêm vào pha nước 0,4 ml dung dịch natri nitrit 0,25% (TT) mới pha. Lắc đều và để yên 1 phút. Thêm 0,8 ml dung dịch amoni sulfamat 0,5% (TT) và để yên 1 phút. Thêm 2 ml dung dịch N-(1-naphthyl)-ethylendiamin dihydroclorid 0,5% (TT). Để yên 1 giờ. Dung dịch không được đậm màu hơn dung dịch đối chiếu được chuẩn bị bằng cách thay pha nước bằng hỗn hợp 1 ml dung dịch naphthylamin 0,001% (TT), 5 ml nước và 4 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (TT).
Crom hòa tan: không được quá 50 phần triệu.
Xác định bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.
Dung dịch thử: Hòa tan 0,500 g chế phẩm trong 25 ml nước bằng cách đun nóng tới khoảng 90oC. Để nguội, thêm nước vừa đủ 25 ml, lọc qua phễu thủy tinh xốp số 4.
Các dung dịch chuẩn: Dùng dung dịch crom mẫu 100 phần triệu (TT) pha các dung dịch chuẩn 0,5 phần triệu, 1 phần triệu và 2 phần triệu.
Cách tiến hành: Sử dụng máy hấp thụ nguyên tử có trang bị đèn cathod rỗng crom, đầu đốt sử dụng ngọn lửa acetylen – không khí nén. Đo độ hấp thụ của các dung dịch chuẩn và dung dịch thử ở 357,9 nm. Từ độ hấp thụ đo được của các dung dịch chuẩn và dung dịch thử, tính hàm lượng crom hòa tan trong chế phẩm.
Kim loại nặng: không được quá 20 phần triệu.
Lấy 1,0 g chế phẩm và tiến hành theo phương pháp 3. Dùng 2,0 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu (TT) để chuẩn bị mẫu đối chiếu.
 Định lượng:
Cân chính xác khoảng 0,150 g chế phẩm đã sấy trong chân không ở nhiệt độ 60oC tới khối lượng không đổi, hòa tan trong dung dịch amoni acetat 2 M (TT) mới pha và pha loãng thành 100,0 ml bằng cùng dung môi. Pha loãng 2,0 ml dung dịch thu được thành 200,0 ml bằng dung dịch amoni acetat 2 M (TT) mới pha. Pha dung dịch chuẩn tương tự trong cùng điều kiện, dùng khoảng 0,150 g tartrazin chuẩn đã sấy trong chân không ở nhiệt độ 60oC tới khối lượng không đổi.
Phổ tử ngoại của dung dịch thử có một hấp thụ cực đại ở khoảng 426 nm, không lệch quá 5 nm so với bước sóng hấp thụ cực đại của dung dịch chuẩn đo trong cùng điều kiện. Đo độ hấp thụ của hai dung dịch tại bước sóng hấp thụ cực đại.
Tính hàm lượng C16H9N4Na3O9S2 trong chế phẩm, dựa vào độ hấp thụ đo được của dung dịch chuẩn, dung dịch thử và nồng độ của dung dịch chuẩn.
2.3.2. Phân tích phẩm màu Erthyrosine
[+] Spoiler
 Định tính:
Chuẩn bị:
Dung dịch S: Hòa tan 50 mg chế phẩm trong nước và pha loãng thành 50 ml bằng nước.
Lấy 1 ml dung dịch S pha loãng thành 100 ml bằng dung dịch natri hydroxyd 0,1 N. Phổ hấp thụ của dung dịch tạo thành trong khoảng 5 nm và  5 nm; 309  từ 230 nm đến 550 nm cho 3 cực đại hấp thụ ở bước sóng 262 3 nm. 525
Trong phần Tạp chất màu liên quan vết chính thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử (2) có vị trí, màu sắc và kích thước tương tự vết chính thu được trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu (1) .
Khi đun nóng chế phẩm cho hơi có màu tím.
Độ trong của dung dịch: dung dịch S phải trong.
Tạp chất màu liên quan: phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Bản mỏng: Silica gel G (TT).
Dung môi khai triển: Amoniac – nước – ethanol – butanol ( 10 : 25 : 25 : 50).
Dung dịch thử (1): Hòa tan 40 mg chế phẩm trong hỗn hợp nước – methanol (50 : 50) và pha loãng thành 10 ml với cùng hỗn hợp dung môi.
Dung dịch thử (2): Lấy 2 ml dung dịch thử (1) và pha loãng bằng hỗn hợp nước – methanol (50 : 50) thành 10 ml.
Dung dịch đối chiếu (1): Hòa tan 40 mg erythrosin chuẩn (ĐC) trong hỗn hợp nước- methanol (50 : 50) và pha loãng thành 50 ml với cùng hỗn hợp dung môi.
Dung dịch đối chiếu (2): Hút chính xác 5 ml dung dịch đối chiếu (1) và pha loãng thành 100 ml bằng hỗn hợp nước – methanol (50 : 50).
Cách tiến hành:
Chấm riêng biệt lên trên bản mỏng 5 μl các dung dịch chuẩn và thử trên. Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được 15 cm. Lấy bản mỏng sắc ký ra và để khô ngoài không khí. Quan sát sắc ký đồ dưới ánh sáng ban ngày. Nếu trên sắc ký đồ của dung dịch thử (1) có vết phụ thì không vết phụ nào đậm hơn vết chính trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu (2).
Chất tan trong ether: không được quá 0,5 %.
Cân 2,0 g chế phẩm đã được sấy khô trước trong chân không ở 60oC cho vào bình định mức dung tích 200 ml, thêm ether khan (TT) tới đủ thể tích. Lắc bằng máy lắc cơ học trong vòng 30 phút, lọc. Lấy 100 ml dịch lọc, bốc hơi trong chân không ở nhiệt độ không quá 20oC. Làm khô cắn trong bình hút ẩm tới khối lượng không đổi. Khối lượng của cắn không được quá 5 mg.
Chất không tan trong nước: không được quá 0,2 %.
Hoà tan 2,0 g chế phẩm trong 200 ml nước bằng cách đun nóng khoảng 90oC. Làm nguội rồi lọc qua một phễu lọc thuỷ tinh xốp số 16 đã được sấy đến khối lượng không đổi và cân bì. Rửa cắn với nước tới khi dịch rửa không màu, sấy cắn ở 100 -105oC tới khối lượng không đổi. Khối lượng cắn thu được không quá 4 mg.
Amin thơm bậc nhất :không được quá 40 phần triệu.
Hoà tan cắn thu được trong phép thử «Chất tan trong ether» trong 10 ml toluen (TT). Lấy 2,5 ml dung dịch này thêm 6 ml nước và 4 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1N (TT). Lắc mạnh, để cho phân lớp và gạn bỏ lớp dung môi hữu cơ, thêm vào lớp nước 0,4 ml dung dịch natri nitrit (TT)0,25 %. Trộn đều và để yên trong một phút. Thêm 0,8 ml dung dịch amoni sulfamat 0,5 %, để yên trong một phút. Thêm 2 ml dung dịch naphthylethylenediamin dihydroclorid 0,5 % . Để yên trong một giờ. Nếu dung dịch đem kiểm tra có màu, thì màu của nó không được đậm hơn màu của dung dịch chuẩn được chuẩn bị tương tự nhưng thay pha nước bằng 1 ml dung dịch naphthylamin 0,001 %, 5 ml nước và 4 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1 N.
Crom hoà tan: không được quá 50 phần triệu.
Xác định hàm lượng crom hoà tan bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.
Dung dịch thử: Hoà tan 0,500 g chế phẩm trong 25 ml nước bằng cách đun nóng khoảng 90oC, để nguội, thêm nước cho đủ 25 ml và lọc qua phễu thuỷ tinh xốp số 16
Dung dịch chuẩn: Pha các dung dịch chuẩn 0,5 phần triệu, 1 phần triệu và 2 phần triệu từ dung dịch crom chuẩn 100 phần triệu.
Đo độ hấp thụ ở 357,9 nm, sử dụng đèn cathod rỗng crom làm nguồn phát xạ và ngọn lửa không khí – acetylen.
Kim loại nặng: không được quá 20 phần triệu.
Lấy 1,0 g chế phẩm tiến hành thử theo phương pháp 3.
Dùng 2 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu (TT) để chuẩn bị dung dịch mẫu đối chiếu.
Iodid: không được quá 0,1 %.
Hoà tan 0,10 g chế phẩm trong 5 ml nước, thêm 0,5 ml acid nitric (TT), lọc, rửa giấy lọc bằng nước để thu được 10 ml dịch lọc. Thêm 1 ml dung dịch kali cromat 0,5 % và 5 ml cyclohexan (TT), lắc và để yên. Chuẩn bị song song trong cùng điều kiện dung dịch chuẩn có 1 ml dung dịch kali iodid 0,0131%. Màu sắc của lớp dung môi hữu cơ ở dung dịch thử không được đậm hơn màu của lớp dung môi hữu cơ ở dung dịch chuẩn .
 Định lượng:
Hoà tan 75,0 mg chế phẩm đã được làm khô trong chân không ở 60oC đến khối lượng không đổi trong dung dịch amoni acetat 0,1542 % mới pha và pha loãng với dung môi này thành 100,0 ml. Lấy 2,0 ml dung dịch tạo thành pha loãng thành 200,0 ml với dung dịch amoni acetat 0,1542 %. Song song tiến hành một dung dịch chuẩn với 75,0 mg erythrosin chuẩn (ĐC) đã được sấy khô trong chân không ở 60oC đến khối lượng không đổi.
Đo phổ hấp thụ khả kiến của dung dịch chuẩn và thử, dùng dung dịch amoni acetat 0,1542% làm màu trắng, dung dịch thử cho một cực đại hấp thụ ở bước sóng khoảng 525 nm và bước sóng cực đại này sai lệch không quá 5 nm so với bước sóng cực đại hấp thụ của dung dịch chuẩn trong cùng điều kiện.
Đo độ hấp thụ của hai dung dịch chuẩn và thử ở bước sóng cực đại hấp thụ, dùng dung dịch amoni acetat 0,1542 % làm mẫu trắng.
Từ độ hấp thụ đo được và nồng độ của các dung dịch chuẩn và thử tính ra hàm lượng C20H6I4Na2O5 hoặc C20H6I4K2O5.
Quote
Like
Share

Joined: August 6th, 2011, 2:38 pm

August 7th, 2011, 8:49 am #5

2.4. Phát hiện phẩm màu trong thịt và các sản phẩm từ thịt – Phương pháp sử dụng sắc kí lớp mỏng
[+] Spoiler
1. Phạm vi ứng dụng:
Tiêu chuẩn này qui định phương pháp sắc ký lớp mỏng để phát hiện các phẩm màu tổng hợp tan trong nước có trong thịt và sản phẩm thịt.
Phương pháp này có thể phát hiện các phẩm màu sau đây:

Tartrazin
Quinolin Yellow FCF
Sunset Yellow FCF
Amaranth
Ponceau 4R
Erythrosin
Patent Blue V
Indigotin
Brilliant Black PN
Black 7984
Fast Green FCF
Blue VRS
Các từ đồng nghĩa và các số nhận biết của các phẩm màu này được (phụ lục
Các phẩm màu thực vật và các chiết xuất từ thực vật được quan sát cho thấy không cản trở đến phương pháp này được liệt kê (phụ lục B, bảng B.1). Các phẩm màu tự nhiên trong một số trường hợp cho thấy gây cản trở đến phương pháp này được liệt kê trong bảng B.
2. Tiêu chuẩn viện dẫn:
TCVN 4851-89 ( ISO 3639-1987 ). Nước dùng để phân tích trong phòng thí nghiệm – Yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử.
TCVN 7140 : 2002
AOAC 46.1.08 : 1995 Official Methods of Analysis ( Các phương pháp phân tích chính thức ( AOAC quốc tế ).
3. Thuật ngữ và định nghĩa:
Trong tiêu chuẩn này áp dụng định nghĩa sau:
Phát hiện các phẩm màu ( Detection of colouring agents ): Việc phát hiện sự có mặt hay không có mặt các phẩm màu theo phương pháp được qui định trong tiêu chuẩn này.

4. Nguyên tắc:
Chiết các phẩm màu ra khỏi phần mẫu thử bằng nước nóng và hấp thụ vào bột polyamit. Làm sạch các phẩm màu đã chiết bằng sắc ký cột và rửa giải các chất màu ra khỏi cột. Nhận biết các phẩm màu bằng sắc ký lớp mỏng.
5. Thuốc thử:
Chỉ sử dụng các thuốc thử loại tinh khiết phân tích, trừ khi có qui định khác.
5.1. Nước, đạt ít nhất là nước loại 3 của TCVN 4851-89 (ISO 3639).
5.2. Ete dầu hỏa, có dải nhiệt độ sôi từ 40oC đến 80oC.
5.3. Metanol.
5.4. Amoniac, dung dịch 25%, p = 0,910 g/ml.
5.5. Axit axetic, 100% phần khối lượng, p = 1,050 g/ml.
5.6. Trinatri citrate ngậm 2 phân tử nước.
5.7. Propan-1-ol.
5.8. Atyl axetat
5.9. 2-metyl-2-propanol
5.10. Axit propionic
5.11. Dung dịch rửa giải dùng cho sắc ký cột.
Trộn 95 thể tích matanol (5.3) với 5 thể tích dung dịch ammoniac (5.4)
5.12. Axit axetic, dung dịch 50% trong methanol.
Trộn 1 thể tích axit axetic ( 5.5 ) với 1 thể tích methanol ( 5.3 ).
5.13. Bột polyamit có cỡ hạt từ 0,05 mm đến 0,16 mm.
5.14. Cát, hạt mịn, được rửa bằng axit clohidric, trung hòa và được nung khô.
5.15. Chất màu đối chứng tiêu chuẩn
Độ tinh khiết của các chất màu tiêu chuẩn có thể thay đổi, vì vậy cần phải biết được độ tinh khiết của các chất màu được sử dụng làm chất chuẩn. Độ tinh khiết được xác định bằng phương pháp AOAC 46.1.06.
Chú thích – Có thể sử dụng các chất màu thực phẩm đã được chứng nhận làm các chất chuẩn.
5.16. Dung dịch đối chứng tiêu chuẩn dùng cho sắc ký lớp mỏng
Tạo riêng rẽ các dung dịch trong nước của từng chất màu đối chứng tiêu chuẩn (5.15) có hàm lượng chất màu tiêu chuẩn khoảng 1 g/l.
Chuẩn bị các dung dịch indigotin trong ngày sử dụng. Các dung dịch khác giữ được ít nhất 3 tháng ( các dung dịch của erytroxin thì 1 tháng ) khi bảo quản nơi tối.
5.17. Chất rửa giải dùng cho sắc ký lớp mỏng: dung dịch I
Cân 25g trinatri xitrat ngậm 2 phân tử nước ( 5.6 ), chính xác 0,1g cho vào bình định mức một vạch 1000ml. Hòa tan trong nước, pha loãng bằng nước đến vạch và lắc đều.
Trộn 80 thể tích dung dịch xitrat này với 20 thể tích dung dịch amoniac ( 5.4 ) và 12 thể tích methanol ( 5.3 )
Để tránh nhiễu hoặc khử nhiễu do saflo hoặc satran, nên sử dụng dung dịch sắc ký II ( 5.18 )
5.18. Chất rửa giải dùng cho sắc ký lớp mỏng: dung dịch II
Trộn 6 thể tích dung dịch propan-1-ol ( 5.7 ) và 1 thể tích etyl axetat ( 5.8 ) và 3 thể tích nước
5.19. Chất rửa giải dùng cho sắc ký lớp mỏng: dung dịch III
Trộn 50 thể tích 2-metyl-2-propanol (5.9) với 12 thể tích axit propionic (5.10 ) và 38 thể tích nước.
6. Thiết bị và dụng cụ:
Sử dụng các thiết bị, dụng cụ phòng thí nghiệm thông thường và đặc biệt là các dụng cụ sau:
6.1. Thiết bị đồng hóa bằng cơ hoặc bằng điện, có thể đồng hóa mẫu phòng thí nghiệm.
Dùng máy cắt quay tốc độ cao hoặc máy xay gắn một đục lỗ với đường kính lỗ không quá 4,0 mm.
6.2. Ống ly tâm, bằng thủy tinh, dung tích 75ml.
6.3. Bình đáy phẳng, có nút thủy tinh mài, dung tích 250ml.
6.4. Bình đáy tròn, có khớp nối bằng thủy tinh, dung tích 100ml.
6.5. Máy ly tâm, hoạt động ở gia tốc quay khoảng 2000g.
6.6. Bộ cô quay chân không.
6.7. Cột sắc ký, bằng thủy tinh gắn bộ lọc và có vòi, dài khoảng 20cm, đường kính khoảng 30mm, cỡ lỗ của bộ lọc từ 40µm đến 100µm ( độ xốp P100 theo ISO 4973 [2] ).
Cho một vài sợi len thủy tinh vào cột và thêm khoảng 1g đến 2g cát ( 5.14 ).
6.8. Bình chứa bằng chất dẻo, dung tích khoảng 10ml, có nắp đậy.
6.9. Tấm lớp mỏng, được phủ một lớp bột xenluloza dày 0,10mm hoặc tương đương.
Sử dụng các tấm bán sẵn thích hợp.
6.10. Micropipet, dung tích khoảng 5µl.
6.11. pH-met, có độ chính xác đến 0,1 đơn vị pH.
7. Lấy mẫu:
Việc lấy mẫu không qui định trong tiêu chuẩn này. Nếu lấy mẫu theo qui định trong TCVN 4833-1: 2002 ( ISO 3100-1) [ 1 ].
Điều quan trọng là phòng thử nghiệm phải nhận được đúng mẫu đại diện và không bị hư hỏng hoặc giảm chất lượng trong suốt quá trình vận chuyển hoặc bảo quản.
Tiến hành từ mẫu đại diện ít nhất là 200g. Bảo quản mẫu sao để tránh giảm chất lượng và biến đổi thành phần.
8. Chuẩn bị mẫu thử:
Đồng hóa mẫu phòng thí nghiệm bằng thiết bị thích hợp ( 6.1 ). Chú ý sao cho nhiệt độ vật liệu thử không tăng quá 25oC. Nếu sử dụng máy xay thì cho xay mẫu ít nhất hai lần.
Cho đầy mẫu đã chuẩn bị vào vật chứa kín khí. Đậy vật chứa lại và bảo quản sao cho tránh được sự giảm chất lượng và thay đổi thành phần của mẫu. Phân tích mẫu càng sớm càng tốt, nhưng phải trong 24h sau khi mẫu đã đồng hóa.
9. Cách tiến hành:
Cảnh báo – Nếu mẫu chứa indigonin, thì trong suốt quá trình phân tích nhiệt độ không được vượt quá 35oC. Indigotin trong dung dịch sắc ký I bị phân hủy từng phần, do đó nên sử dụng dung dịch sắc ký II.
Erytroxin rất nhạy với ánh sáng. Khi phải tạm dừng phân tích, các dung dịch và các tấm sắc ký phải được bảo quản nơi tối. Cũng tương tự đối với indigotin.
9.1. Phần mẫu thử
Cân 5g mẫu thử đã chuẩn bị ( xem điều 8 ), chính xác đến 0,1g cho vào ống ly tâm (6.2 ).
Đối với các mẫu có chất béo thì tiến hành tho 9.2.
Đối vối các mẫu không có chứa chất béo thì thì tiến hành theo 9.3.
9.2. Mẫu có chất béo
Cho khoảng 20ml ete dầu hỏa (5.2) vào ống ly tâm và trộn đều bằng đũa thủy tinh. Gạn bỏ ete dầu hỏa.
Lặp lại thao tác này ba lần.
9.3. Mẫu không có chất béo
Cho 25ml nước sôi (xem cảnh báo ở trên) và trộn. Thêm 25ml dung dịch chất rửa giải (5.11).
Kiểm tra pH là 9±0,5 bằng pH-met (6.11). Nếu không, chỉnh pH bằng axit axetic (5.5) hoặc dung dịch amoniac (5.4).
Trộn đều. Làm lạnh mẫu 15 min trong tủ đông lạnh (để tránh đục).
Ly tâm (6.5) trong 10 min ở gia tốc quay khoảng 2000g.
Gạn dung dịch trong cho vào bình đáy phẳng (6.3). Trong trường hợp đối với indigotin, thì sử dụng bình đáy tròn (6.4).
Thêm 5 ml nước vào ống ly tâm chứa phần còn lại. Lắc đều và thêm 10ml dung dịch rửa giải (5.11). Lắc đều và cho vào ly tâm như trên.
Lặp lại qui trình cho đến khi tất cả chất màu đã được chiết khỏi mẫu, sau đó gộp tất cả các dịch chiết.
Cho bay hơi dịch chiết hỗn hợp trên nồi cách thủy đến khoảng 25ml để loại bỏ hết methanol. Đối với indigotin thì sử dụng bình đáy tròn (6.14) và dùng bộ cô quay chân không (6.6) ở 35oC.
Thêm 25ml nước sôi (xem cảnh báo) và trộn.
9.4. Chuyển các chất màu sang bột polyamit
Dùng axit axetic (5.5) hoặc dung dịch amoniac (5.4) để chỉnh pH đến khoảng từ 4 đến 5.
Thêm 1g bột polyamit (5.13) vào dung dịch còn ấm (xem cảnh báo). Lắc mạnh trong 1 min.
Để bột lắng.
Kiểm tra để biết chắc rằng chất màu không còn trong dung dịch. Nếu dung dịch có màu, thêm một ít bột polyamit và lắc thật mạnh.
Chú thích - Một số chất màu tự nhiên (phụ lục B) không hấp thụ hoàn toàn lên bột polyamit, để lại dung dịch có màu ngay cả khi tất cả các chất màu tổng hợp đều hấp thụ hoàn toàn. Thông thường có thể quyết định loại mẫu cho dù có hoặc không có mặt các chất màu tự nhiên như thế.
Lắc và chuyển huyền phù còn ấm vào cột sắc ký (6.7).
Tráng bình đáy phẳng ba lần, mỗi lần bằng 10ml nước nóng (xem cảnh báo) và cuối cùng rửa ba lần mỗi lần bằng 5ml methanol (5.3). Nếu các chất màu tự nhiên được rửa giải, thì tiếp tục rửa cột bằng methanol cho đến khi methanol được rửa giải mất màu.
9.5. Rửa giải và cô chất màu đã tách
Đặt bình (6.4) dưới cột và rửa giải các chất màu ra khỏi bột polyamit bằng các phần 5 ml dung dịch rửa giải (5.11), ở tốc độ dòng thể tích rửa giải lầ 2 ml/min, cho đến khi pilyamit mất màu.
Cho bay hơi chất rửa giải đến khô sử dụng bộ cô quay chân khong (6.6) ở nhiệt độ cao nhất là 35oC (xem cảnh báo).
Thêm 1,0 ml hoặc 2,0 ml dung dịch rửa giải (5.11) tùy thuộc vào lượng và số lượng chất màu và hòa tan cặn. Chuyển dung dịch chất màu sang vật chứa bằng chất dẻo (6.8).
9.6. Tách bằng sắc ký lớp mỏng
o Tấm đối chứng tiêu chuẩn:
Chuẩn bị ba tấm sắc ký lớp mỏng đối chứng tiêu chuẩn. dùng micropipette (6.10) phân phối từng dung dịch tiêu chuẩn (5.16) mỗi dung dịch một điểm chấm khoảng 5µl (đường kính < 5 mm) một cách riêng rẻ lên từng tấm (6.9). Hiện màu từng dung dịch một cách riêng rẻ, mỗi dung dịch dùng một chất rửa giải sắc ký ( 5.17, 5.18 và 5.19) trong bể chưa bão hòa cho đến khi vệt màu trên sắc ký đạt đến khoảng từ 10 cm đến 12 cm so với điểm chấm sắc ký. Lấy các tấm sắc ký ra khỏi bể và làm khô trong không khí dưới tám che. Bảo quản các tấm này nơi tối. Các điểm chấm này có thể ổn định trong vài năm, trừ trường hợp đối với indigotin.
o Mẫu:
Dùng micropipette (6.10) lấy một lượng dung dịch mẫu (9.5) vừa đủ để nhìn thấy cho vào tấm sắc ký mỏng (6.9). Dùng máy sấy tóc sấy khô. Trong trường hợp đối với indigotin thì làm khô trong không khí.
Cho hiện màu tấm sắc ký này trong bể chưa bão hòa cho đến khi chiều cao của cột đạt khoảng từ 10 cm đến 12 cm, sử dụng dung dịch sắc ký thích hợp (5.16, 5.17 và 5.18); nghĩa là dung dịch cho các màu tốt nhất phát hiện được trong mẫu (xem điều 1). Đôi khi cần phải chuẩn bị tấm mẫu thứ hai và cho hiện màu trong một chất rửa giải của hai chất rửa giải khác để thu được sự tách màu tốt nhất.
Lấy tấm sắc ký ra khỏi bể và làm khô trong không khí dưới tấm che.
So sánh các vết chấm mẫu với tấm đối chứng tiêu chuẩn thích hợp (9.6.1).
Khuyến cáo rằng, nên sử dụng các lượng khác nhau của các dung dịch mẫu trong trường hợp hỗn hợp các chất màu, vì các chất màu có thể có mặt với các nồng độ khác nhau trong trạng thái cô đặc.
Sự hiện màu không tốt thường do sự làm sạch không đủ. Nếu vậy, hấp thụ lại chất màu bằng chất phụ, rửa bằng nước nóng và lấy chất hấp phụ ra như mô tả ở trên.
9.7. Thử khẳng định
Thử khẳng định các chất màu đã nhận biết bằng cách chạy sắc ký mẫu cô đặc (9.6.2) trong hỗn hợp các chất chuẩn dùng cho các chất màu đã được nhận biết trong sắc ký đồ ban đầu.
Nếu còn nghi ngờ, rửa giải chất màu từ tấm sắc ký bằng dung dịch trung tính ( nước hoặc etanol, hoặc 0,2g/l dung dịch amoni axetat), axit (0,1 mol/l axit clohidric) và kiềm (0,1 mol/l dung dịch natri hidroxit) và so sánh sắc phổ hấp thụ của chất màu với sắc phổ hấp thụ của chất chuẩn. Xem sắc phổ hấp thụ trong ( phụ lục C).
Quote
Like
Share

Joined: July 28th, 2011, 12:54 am

August 11th, 2011, 3:50 pm #6

Nhóm cho mình hỏi:
Ở phần trình bày của bạn về "phép đo màu bằng thị giác", cụ thể là như thế nào, thí dụ như bạn dựa vào màu của mẫu chuẩn để so sánh với màu của sản phẩm bạn làm ra hay sao? hay theo một phương pháp nào khác?
Quote
Like
Share

Joined: July 19th, 2011, 3:46 pm

August 12th, 2011, 2:25 am #7

chào nhóm.
Phát hiện phẩm màu trong thịt và các sản phẩm từ thịt ngoài phương pháp sử dụng sắc kí lớp mỏng còn có phương pháp nào khác nữa không?
Quote
Like
Share

Joined: July 21st, 2011, 2:05 am

August 12th, 2011, 10:57 am #8

trinhthihuong_10329711 wrote:Nhóm cho mình hỏi:
Ở phần trình bày của bạn về "phép đo màu bằng thị giác", cụ thể là như thế nào, thí dụ như bạn dựa vào màu của mẫu chuẩn để so sánh với màu của sản phẩm bạn làm ra hay sao? hay theo một phương pháp nào khác?
Cám ơn câu hỏi của bạn. Do phần " phép đo màu bằng thị giác" nhóm mình dịch ra từ tài liệu Food Additive book nên có phần khó hiểu, rất mong được sự góp ý thêm từ các bạn, theo mình phương pháp đo màu mà nhóm trình bày trong bài được hiểu như sau: người ta sử dụng các mẫu màu chuẩn đối chiếu với mẫu màu đang có; hay sử dụng một bảng màu có sẵn và dựa vào đó đối chiếu xem đâu là màu mà họ quan tâm. Còn việc so sánh mẫu với một hệ thống theo thứ tự màu sắc, các giả thiết cho rằng một nguồn sáng tiêu chuẩn sẽ được sử dụng để quan sát (Billmeyer, 1988), theo mình nghĩ, họ sử dụng một hệ thống phân tích với bảng màu sẵn bên trong có một nguồn sáng tiêu chuẩn, khi tiến hành so sánh màu sắc, họ cho hệ thống chạy, các màu lần lượt xuất hiện, dựa vào các màu sắc đó, mà họ biết được mẫu của họ là màu nào. Hai phương pháp kể trên hoàn toàn khác nhau. Một bên sử dụng bảng màu có sẵn tham chiếu, một bên sử dụng hệ thống phân tích màu sắc.
Thân chào!!!
Quote
Like
Share

Joined: July 21st, 2011, 2:05 am

August 12th, 2011, 11:27 am #9

dhtp6clt-docaot.thuyvan-10341231 wrote:chào nhóm.
Phát hiện phẩm màu trong thịt và các sản phẩm từ thịt ngoài phương pháp sử dụng sắc kí lớp mỏng còn có phương pháp nào khác nữa không?
Mình xin trả lời câu hỏi của bạn. Ngoài sắc kí lớp mỏng còn có: sắc ký lớp mỏng hiệu suất cao (high performance TLC - HPTLC) đây là sự kết hợp sắc ký lớp mỏng và sắc ký lỏng hiệu suất cao nhằm tăng làm tăng độ dung giải của sắc kí lớp mỏng và cho số liệu chính xác hơn; bên cạnh đó: Phân tích các chất màu nhân tạo cực nhanh bằng sắc ký lỏng khối phổ, phương pháp quang phổ hấp thụ UV-VIS, các phương pháp điện di mao mạch (CE),...
Tùy theo mục đích phân tích mà sử dụng phương pháp phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, công nghệ.
Thân chào!!!
Quote
Like
Share

Joined: July 27th, 2011, 12:59 pm

August 12th, 2011, 2:09 pm #10

Chào nhóm
Cho mình hỏi nhóm bạn có ghi "các màu riêng biệt được phân tích theo tiêu chuẩn kỹ thuật phân tích hữu cơ". Bạn có thể cho mình biết kỹ thuật phân tích hữu cơ là như thế nào không? Và có thể nêu ưu và nhược điểm của phương pháp phân tích hóa học và phép đo màu bằng thị giác không. Cám ơn
Quote
Like
Share

Confirmation of reply: